vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ngần Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Ngần Văn D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngần Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST.
Ngày: 23 - 5 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mùi Văn Hoạt

Bà Trịnh Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Điệp – Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La

- Thư ký Tòa án: Ông Bàn Văn Sơn

- Kiểm sát viên: Bà Vì Thị Dung

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST- ST ngày 20 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Ngần Văn D; tên gọi khác: Không, sinh năm 1993, sinh tại huyện M, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngần Văn T, sinh năm 1974 và bà Hà Thị L, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Đinh Thị Th, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2015.

Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 19/02/2022 Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình áp dụng điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2 triệu đồng đối với Ngần Văn D về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngần Văn D đã chấp hành xong ngày 27/4/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/01/2023 cho đến nay. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngần Văn D, sinh năm 1993, trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình là đối tượng sử dụng chất ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 05/01/2023, D đón xe khách đi từ nhà đến bản C, xã L, huyện V để tìm mua ma túy cho bản thân sử dụng. Tại đường dân sinh của bản C, xã Ló, D đã gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng 23 tuổi, tự giới thiệu tên là V. Qua trao đổi, D đã hỏi và mua được của V 01 gói Heroine và 01 gói hồng phiến, bên ngoài đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D lấy ra một ít Heroine sử dụng ở bụi cây ven đường. Số ma túy còn lại, D gói thêm nhiều lớp nilon bên ngoài rồi ngậm ở trong miệng. Sau đó D đi bộ ra đường Quốc lộ 6 chờ đón xe khách để về nhà. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đang đứng ở ven đường Quốc lộ 6 thuộc địa phận bản C, xã L thì bị tổ công tác Đội CSGT- TT Công an huyện V đến kiểm tra. Do hoảng sợ, D đã nuốt hai gói ma túy vào bụng. Trước tổ công tác D đã khai báo toàn bộ sự việc nêu trên. Tổ công tác đã đưa Ngần Văn D đến Bệnh viện đa khoa Th - Thị trấn Nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn La. Tại đây, bác sỹ đã sử dụng các biện pháp y tế lấy từ trong dạ dày của D ra 02 gói: Gói thứ nhất bên ngoài được gói bằng 05 lớp nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là Heroine; Gói thứ hai bên ngoài được gói bằng ba lớp nilon màu hồng, tiếp đến là lớp nilon màu đen trong cùng đựng 01 viên nén màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp. Ngần Văn D khai nhận đó là 02 gói ma túy của D cất giấu để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Ngần Văn D, tổ công tác đã đưa Ngần Văn D về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an huyện V để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, tạm giữ của Dsố tiền 270.000 đồng, đồng thời bàn giao Ngần Văn D cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V điều tra, giải quyết.

Ngày 05/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Ngần Văn D được như sau:

- Số chất bột màu trắng nghi là Heroine có khối lượng 0,051 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu D;

- 01 viên nén màu hồng, bề mặt có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine được khối lượng là 0,107 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu D1;

Các mẫu giám định D, D1 được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La để giám định chất ma túy, loại ma túy

Tại kết luận giám định số 188 ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu giám định ký hiệu D là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,051. Mẫu giám định ký hiệu D1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,107 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,051 gam Heroine và 0,107 gam Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 19/4/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Ngần Văn D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Ngần Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Ngần Văn D từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy đối với Ngần Văn D.

Trả lại bị cáo 270.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp. [2]. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 05/01/2023, Ngần Văn D có hành vi cất giấu trái phép 0,051 gam Heroine và 0,107 gam Methamphetamine (tổng cộng là 0,158 gam) mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đội CSGT- TT Công an huyện V làm nhiệm vụ tại bản C, xã L, huyện V phát hiện, bắt quả tang.

Căn cứ quy định tại Điều 4, chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của Ngần Văn D là: 0,051 gam Heroine + 0,107 gam Methamphetamine = 0,158 gam (dưới 05 gam). Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ngần Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân đã đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa tiền sự nay lại phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Ngần Văn D đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy đối với Ngần Văn D là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 270.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội tuyên trả lại bị cáo.

Về nguồn gốc chất ma túy: Ngần Văn D khai nhận mua được của một người đàn ông không quen biết, khoảng 23 tuổi, tự giới thiệu tên là V tại đường dân sinh bản C, xã L, huyện V. Kết quả rà soát, xác minh trên địa bàn bản C, xã L không có đối tượng nào có đặc điểm nhận dạng như lời khai của D. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh điều tra, buộc Ngần Văn D phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Ngần Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Ngần Văn D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy đối với Ngần Văn D.

- Trả lại bị cáo 270.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 76/BBVC-CCTHA ngày 17/05/2023.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ