vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 15 (mƣời lăm) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn T cho UBND xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHạm Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày: 15/11/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoan

Ông Chu Quang Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh -Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2023/HSST ngày 30/10/2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1981; Nơi cƣ trú: Thôn Mỹ Â, xã Văn T, huyện Tứ Ktỉnh Hải Dƣơng; Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Tvà bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị Dung và 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người bị hại: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn Đoàn Kh, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

+ Anh Nguyễn Đăng G, sinh năm 1984;

+ Ông Đặng Trung H, sinh năm 1972;

+ Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1972;

Đều trú tại: Thôn Đoàn Kh, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Nguyễn Thiên H, sinh ngày 23/10/2018;

+ Cháu Nguyễn Đăng P, sinh ngày 28/9/2021;

Trú tại: Thôn Đoàn Kh, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người đại diện hợp pháp cho cháu Hoa và cháu Phú: Anh Nguyễn Đăng G, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn Đoàn Kh, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người đại diện theo ủy quyền của của anh Giáp: Ông Nguyễn Đăng S, sinh năm 1957; Trú tại: Thôn Đoàn Kh, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người làm chứng:

+ Ông Bùi Văn M, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn An T, xã Quang T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Chị Vũ Thị H, sinh 1996; Trú tại: Thôn An Q, xã Nguyên G, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Anh Phạm Duy L, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Cầu X, xã Quang T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Bà Bùi Thu Th, sinh năm 1979; Trú tại: Khu Park City, phƣờng La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Văn T có Giấy phép lái xe hạng B2 do sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 11/5/2020. Khoảng 11 giờ ngày 01/7/2023, Phạm Văn T điều khiển xe ô tô tải BKS 34C-339.26 chở hoa quả từ TP Hải Dƣơng về huyện Tứ Kỳ theo đƣờng tỉnh lộ 391. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, Thạnh điều khiển xe đến địa phận Thôn Cầu X, xã Quang T, huyện Tứ K, Thạnh cảm thấy buồn ngủ nhƣng vẫn cố gắng điều khiển xe, tốc độ khoảng 50km/h, đi làn đƣờng bên phải theo hƣớng Hải Dƣơng đi Quý Cao. Khi đến km 26+280, do ngủ gật, Thạnh đã lao xe từ làn đƣờng bên phải sang làn đƣờng bên trái theo hƣớng Hải Dƣơng đi Quý Cao va chạm trực tiếp với xe mô tô BKS 34B3-729.26 do chị Đặng Thị L điều khiển đi ngƣợc chiều, làm cho xe mô tô của chị Lý bị đẩy ra lề đƣờng ngoài phần xe chạy, đổ nghiêng phải, đầu xe hƣớng Quý Cao, đuôi xe hƣớng Hải Dƣơng, tâm trục bánh trƣớc và bánh sau lần lƣợt cách mép đƣờng bên phải theo hƣớng Quý Cao đi Hải Dƣơng là 110cm và 70cm, cột mốc cách tâm trục bánh trƣớc xe mô tô 30cm bị đẩy đổ nghiêng về phía Quý cao 300. Sau khi va chạm với xe mô tô của chị Lý, xe ô tô do Thạnh điều khiển tiếp tục di chuyển ra mép đƣờng bên phải theo hƣớng Quý Cao đi Hải Dƣơng đâm đổ cây bạch đàn tại lề đƣờng, làm xe ô tô bị lật nghiêng phải, đầu xe hƣớng xuống mƣơng nƣớc. Hậu quả tai nạn làm chị Lý bị thƣơng đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ sau đó bị tử vong cùng ngày do đa chấn thƣơng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 240/KLGĐTT- KTHS ngày 10/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận nguyên nhân chết của chị Đặng Thị L do đa chấn thƣơng (chấn thƣơng cột sống cổ, chấn thƣơng ngực kín).

Sau khi gây tai nạn, Phạm Văn T cùng gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình chị Đặng Thị L số tiền 350.000.000 đồng (trong đó có 20.000.000 đồng mua lại chiếc xe máy của chị Lý). Đại diện gia đình chị Lý đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Thạnh.

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 26/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Phạm Văn T ra trƣớc toà để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 BLHS. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”; xử phạt Phạm Văn T từ 15 đến 18 tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 30 đến 36 tháng tình từ ngày tuyên án; Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 300037309171 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 11/5/2020.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại đã ủy quyền cho ông Nguyễn Đăng S tham gia tố tụng, ông Sáng, ông Huân có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên toà, không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện, kết luận giám định pháp y và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 01/7/2023, tại km 26+280 đƣờng tỉnh lộ 391, thuộc địa phận xã Quang Trung, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Phạm Văn T điều khiển xe ô tô, biển kiểm soát 34C-339.26 đi hƣớng Hải Dƣơng - Quý Cao, do đi không đúng phần đƣờng quy định, đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 34B3-729.26 do chị Đặng Thị L điều khiển, hậu quả chị Lý bị thƣơng, đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ nhƣng tử vong cùng ngày tại bệnh viện do đa chấn thƣơng.

Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định nhƣng khi tham gia giao thông bị cáo đã đi sang phần đƣờng ngƣợc chiều, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đƣờng bộ; hậu quả đã gây tai nạn, làm 1 ngƣời chết, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, sự hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của ngƣời khác nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại, đại diện gia đình ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phƣơng cũng có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo cùng gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại số tiền 350.000.000 đồng (trong đó có 20.000.000 đồng mua lại chiếc xe máy của chị Lý). Ông Nguyễn Đăng S và ông Đặng Trung H là ngƣời đại diện theo uỷ quyền đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo sử dụng xe làm phƣơng tiện chở hàng lấy công nuôi sống gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Giấy phép lái xe hạng B2 số 300037309171 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 11/5/2020 trả lại cho bị cáo.

Về vật chứng: Đối với xe ô tô BKS 34C-339.26, ngày 06/10/2023 cơ quan Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho Phạm Văn T; xe mô tô Honda Airblade BKS 34B3-729.26, ngày 10/8/2023 cơ quan Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho ông Nguyễn Đăng S là ngƣời đại diện theo uỷ quyền của anh Giáp.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 15 (mƣời lăm) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn T cho UBND xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 300037309171 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 11/5/2020 (trả ngay cho bị cáo tại phiên tòa).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án; Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên toà đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ