vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cà Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“

Xử phạt bị cáo Cà Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cà Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày 18 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải và bà Nguyễn Thị Xuân Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: bà Cao Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

CÀ VĂN L, sinh năm 1996 tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: B, xã M, huyện Mường La, tỉnh Sơn La ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn Y2, sinh năm 1973 và bà Lò Thị D2, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Tại bản án số 507/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2022. Đã nộp án phí hình sự. (Chưa được xóa án tích); Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền L nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Thành L1, sinh năm 1997. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn P, xã H, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/3/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Cà Văn L đã một mình điều khiển chiếc mô tô biển số: 21K1-25799 đi từ phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đến ngã tư Nhổn thuộc phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, L gặp một nam thanh niên, L không biết tên, địa chỉ của người này và L hỏi mua được của nam thanh niên này 03 (ba) gói giấy màu trắng bên trong có ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng Sau khi mua được ma túy, L cầm 03 gói giấy màu trắng trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về khu vực thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức để tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an xã Kim Chung kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên. Vật chứng thu giữ: 03 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh kích thước khoảng (1,5x01) cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 21K1-25799 màu trắng, đen, đỏ, số khung: RLCUG0610GY386576, số máy: G3D4E-105685.

Tại Kết luận giám định số 1984/KL-KTHS ngày 04/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy màu trắng có dòng kẻ đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,113 gam”

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Cà Văn L ngày 27/3/2023 tại khu vực ngã tư Nhổn thuộc phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, L khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 21K1-25799 L điều khiển đi mua ma túy, quá trình điều tra L khai: Chiếc xe trên L mượn của anh Hà Thành L1, sinh năm: 1997; địa chỉ: thôn Phai Lò, xã Hạnh Sơn, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Qua tra cứu xác định người đăng ký sở hữu chiếc xe trên là anh Hà Thành L1. Anh L1 khai: Ngày 27/3/2023, anh có cho L mượn chiếc xe mô tô trên để L đi làm, anh L1 không biết việc L sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc mua ma túy. Hiện chiếc xe mô tô trên đang thu giữ theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 21/6/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đã truy tố các bị cáo Cà Văn L về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cà Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Cà Văn L từ 24 đến 30 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an TP Hà Nội hoàn trả sau giám định; Trả cho anh Hà Thành L1 01 xe mô tô mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 21K1-25799 không liên quan đến việc phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h30 ngày 27/3/2023, tại khu vực Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Cà Văn L đã có hành vi tàng trữ chất ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,113 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang. Như vậy có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, ma túy là nguyên nhân gây ra căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, là mầm mống gây ra các loại tội phạm khác. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương ứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 507/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/12/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù do đó bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình thiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an TP Hà Nội hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 21K1-25799 xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Thành L1, anh L1 không biết việc L sử dụng chiếc xe trên vào việc mua ma túy, anh L1 có đơn xin lại chiếc xe nên trả lại chiếc xe trên cho anh L1.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cà Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Cà Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật có ghi tên đối tượng Cà Văn L do Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định.

Trả cho anh Hà Thành L1 01 xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 21K – 25799, màu trắng đen, đỏ đã qua sử dụng; số khung: RLCUG0610GY386576, số máy: G3D4E – 405685.

(Theo biên bản giao nhận vật ngày 23/6/2023 Công an huyện Hoài Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, Hà Nội).

4. Án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cà Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 BLTTHS

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ