vanban.org

Bản án 60/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Huy H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 21/3/2023 của Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Huy H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: xử phạt Đỗ Huy H 02 năm 06 tháng tù, thời hạn c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Huy H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Huy H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 21/3/2023 của Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-PT
Ngày 14 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành

Bà Phạm Thị Thuý Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2023/TLHS-PT ngày 26 tháng 4 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Huy H, sinh ngày 15/4/1987, tại huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Văn M và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 89/2011/HS-PT ngày 17/8/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 10/2015/HS-ST ngày 25/3/2015 Tòa án nhân dân huyện A xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 02/9/2020 chấp hành xong án phạt tù (Đều chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12 ngày 13/12/2013 Công an huyện P phạt 500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 13/12/2013 chấp hành xong quyết định. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2023 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 19/7/2022, Đỗ Huy H đi xe buýt đến thành phố G, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. Tại khu vực phường F, H mua của một người đàn ông (H không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói nhỏ heroine với giá 250.000đ. Sau đó, H đi xe buýt về huyện A. Khi đến khu vực thôn I, xã C, H gọi điện thoại cho Văn Danh D là bạn nghiện ma túy, bảo D đến đón H về nhà D chơi. Về nhà D, thấy không có ai ở nhà, H lấy gói ma túy vừa mua, lấy ra một phần cả hai cùng sử dụng. Phần ma túy còn lại H gói lại để trên giường trong phòng ngủ của D. Khi H chuẩn bị cầm gói ma túy về để sử dụng tiếp thì cơ quan Công an đến kiểm tra hành chính, thu giữ 01 gói giấy chứa chất bột cục màu trắng của H để ở giường trong phòng ngủ của D, niêm phong ký hiệu A1. H khai nhận đây là heroine của H, Cơ quan Công an đưa H về trụ sở Công an xã C làm việc, sợ bị bắt giam nên H đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 24/01/2023, Công an huyện E, tỉnh Kiên Giang bắt H theo quyết định truy nã của Công an huyện A. Quá trình bỏ trốn, H không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật gì.

Tại Văn bản số 2198/KL-KTHS, ngày 23/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0385g (Không phảy không ba tám năm gam, không kể bao bì) loại heroin.

Về nguồn gốc ma túy: Đỗ Huy H khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực phường F, thành phố G, tỉnh Vĩnh Phúc về sử dụng nhưng chưa sử dụng hết thì bị Công an phát hiện thu giữ.

Với hành vi như trên, tại Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 21/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện A đã quyết định:

Tuyên bố: Đỗ Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đỗ Huy H 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 24/01/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, tuyên án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/3/2023 Đỗ Huy H có đơn kháng cáo kêu oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ quyền công tố tại phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Huy H làm trong hạn luật định, hợp lệ, được xem xét giải quyết.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Huy H thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để xác định như sau: Khoảng 08 giờ ngày 19/7/2022, Đỗ Huy H đi xe buýt lên thành phố G, H đến khu vực phường F tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H mua của một người đàn ông (H không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói nhỏ heroine với giá 250.000đ. Sau đó, H đi xe buýt về huyện A. Khi đến khu vực thôn I, xã C, H gọi điện thoại cho Văn Danh D là bạn nghiện ma túy, bảo D đến đón H về nhà D chơi. Về nhà D, thấy không có ai ở nhà, H lấy gói ma túy vừa mua, lấy ra một phần cả hai cùng sử dụng. Phần ma túy còn lại H gói lại để trên giường trong phòng ngủ của D. Khi H chuẩn bị cầm gói ma túy về để sử dụng tiếp thì cơ quan Công an đến kiểm tra hành chính, thu giữ 01gói giấy chứa chất bột cục màu trắng của H để ở giường trong phòng ngủ của D, niêm phong ký hiệu A1. Tại Văn bản số 2198/KL-KTHS ngày 23/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0385g (Không phảy không ba tám năm gam, không kể bao bì) loại heroin.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy rằng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Đỗ Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng cáo kêu oan của Đỗ Huy H: Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đó là tự đi mua ma tuý, sau đó rủ D sử dụng hết ½, số còn lại để ở đầu giường mang về hút tiếp thì bị phát hiện bắt giữ. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo cho rằng số ma túy bị cáo mua đã sử dụng một mình hết, số ma tuý bị thu giữ bị cáo không biết của ai. Nhưng tại biên bản sự việc hồi 15 giờ 30 phút ngày 19/7/2023 (BL 36) H khai nhận khi về nhà D, H đã lấy ½ gói ma túy ra rủ D cùng sử dụng, gói số ma tuý còn lại để trên giường trong phòng ngủ của D để sau mang về sử dụng tiếp thì bị phát hiện. Lời khai của Văn Danh D cũng khẳng định ma tuý là của H, sau khi H và D đã sử dụng. Khi lập biên bản sự việc có sự chứng kiến của ông Trần Văn K là Trưởng thôn L(BL 36). Tại biên bản ghi lời khai (BL 124, 126), Biên bản hỏi cung bị can (BL 128, 130, 132, 150), Bản tường trình (BL 136, 138, 139, 140) bị cáo đều thừa nhận ma túy thu được trong phòng ngủ của D là của bị cáo sử dụng còn, chưa kịp mang về sử dụng thì bị phát hiện. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thay đổi lời khai và cho rằng số ma tuý bị cáo mua đã sử dụng một mình hết, cấp sơ thẩm kết án đối với bị cáo là oan, nhưng tại phiên toà bị cáo không đưa ra đượng căn cứ gì mới. Toà án đã triệu tập anh Văn Danh D đến phiên toà để đối chất nhưng anh D có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra và khẳng định số ma tuý đó là của H sau khi H và D sử dụng còn lại. Với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị đưa ra xét xử về tội Trộm cắp tài sản và Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xoá án tích và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý. Lần phạm tội này mặc dù bị cáo có 02 tiền án nhưng không xác định là tái phạm nguy hiểm vì lần phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy được xác định là yếu tố định tội đối với bị cáo, nên chỉ xác định lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội vì nó làm xói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, sau khi phạm tội bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo kêu oan, nhưng không đưa ra được tình tiết nào mới, Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng tội danh và mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đặc biệt là tội phạm ma tuý, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo Đỗ Huy H phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Huy H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 21/3/2023 của Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Huy H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: xử phạt Đỗ Huy H 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 24/01/2023.

Bị cáo Đỗ Huy H phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ