vanban.org

Bản án 60/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Công S.

Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Lê Cẩm T(Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/01/2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Công S cho đến lúc chị T có đơn yêu cầu. Anh Lê Công S người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Công S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:60/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31 tháng 05 năm 2023
“V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Ông Phan Văn Hưng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:188/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023, về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐST- HNGĐ ngày 04/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2023/QĐ-HPT ngày 25/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/1978.

Trú tại: khu 2, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Công S, sinh ngày 02/7/1991.

Trú tại: xóm 6, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Công S phát sinh tình cảm sau khi tình cờ gặp nhau, nên anh chị đã quyết định tiến tới hôn nhân được sự đồng ý của hai gia đình và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 42/2017 ngày 16/5/2017.Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S có nhiều thói hư tật xấu, trai gái quan hệ bất chính với nhiều phụ nữ khác, không có ý thức xây dựng hôn nhân bền vững đối với chị T, do vậy xung đột cự cãi giữa vợ và chồng xảy ra liên tục ngày càng sâu sắc hơn, làm vợ chồng mất tình cảm, tình yêu đối với nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã tự hòa giải, gia đình hai bên đã góp ý động viên, nhưng vẫn không thể duy trì hôn nhân, nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Chị T xác định đã mất hết tình cảm đối với anh S, hôn nhân không thể duy trì, chị đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Công S.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Lê Cẩm T (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/01/2016. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh S không có trách nhiệm gì đối với con chung kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nếu ly hôn chị T đề nghị giao con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, vì con chung có nguyện vọng được sinh sống với mẹ, chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Công S,Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, cố tình vắng mặt, tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lê Công S cơ bản đúng như nguyên đơn đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xóm 6, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng bị đơn anh Lê Công S không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được tống đạt lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Lê Công S.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T, anh Lê Công S được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. chị T, anh S tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 42/2017 ngày 16/5/2017 nên xác định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lê Công S là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa chị T, anh S tan rã, đổ vỡ là do vợ chồng thiếu tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm, chị T nghi ngờ anh S có quan hệ bất chính với nhiều người phụ nữ khác, anh S không có ý thức xây dựng hôn nhân bền vững đối với chị T. Từ nguyên nhân mâu thuẫn này vợ chồng đã có những lời nói, xử sự không đúng mực với nhau trong quá trình sống chung. Chị T, anh S xác định hôn nhân đã đổ vỡ nên anh chị đã chủ động sống ly thân cắt đứt các mối quan hệ hệ đối với nhau kể từ đầu năm 2021. Kể từ ngày sống ly thân cho đến nay các bên không có ý thức hòa giải níu kéo hôn nhân. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị T, anh S đã thực sự tan rã, đổ vỡ, sợi dây gắn kết tình cảm, mục đích hôn nhân giữa các bên không còn. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Công S.

- Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung được chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, Anh S không có trách nhiệm gì từ vật chất đến tinh thần. Mặc dù không có sự hổ trợ của anh S, nhưng Chị T vẫn nuôi con tốt dạy con ngoan, con chung phát triển tốt về mọi mặt. Nay chị đề nghị giao con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đúng, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng con chung, do đó cần áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Nguyễn Thị T.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S cho đến lúc chị T có đơn yêu cầu.

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu tòa giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Buộc Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Về quan hệ tình cảm: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Công S.

2.Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Lê Cẩm T(Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/01/2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Công S cho đến lúc chị T có đơn yêu cầu.

Anh Lê Công S người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm.

Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Nguyễn Thị T nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Án phí ly hôn sơ thẩm Chị T phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0000771 ngày 17/04/2023, Chị T đã nộp đủ án phí

4.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã L, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ