vanban.org

Bản án 60/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Phượng E ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.

Về quyền nuôi con: Giao anh Nguyễn Trọng T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 24/11/2019. Chị Trương Thị Phượng E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản tr…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa chị E và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Phượng E ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 5 - 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Hoàng Nam

- Bà Lê Thị Hạnh Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lý Phước Bền, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Phượng E, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2023, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Trương Thị Phượng E trình bày và có yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Vào năm 2017 chị Phượng E và anh Nguyễn Trọng T quen biết, tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn bất hòa, cải vả do anh T thay đổi tính tình không quan tâm chăm lo gia đình hay uống rượu về nhà vô cớ có lời lẽ xúc phạm chị, chị nhiều lần khuyên nhưng anh T không thay đổi nên chị và anh T sống riêng từ đầu năm 2022 đến nay. Sau khi sống riêng không ai quan tâm ai, không tạo điều kiện hàn gắn lại, nay chị Phượng E thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.

- Về con chung tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 24/11/2019, chị Phượng E thỏa thuận để anh T tiếp tục nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phượng E không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị Ph E không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị Phượng E không có yêu cầu nào khác. Bị đơn Nguyễn Trọng T vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình giải quyết anh Tâm có lời khai như sau:

- Về hôn nhân: Anh và chị Phượng E tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống giữa anh và chị Phượng E có mâu thuẫn bất đồng quan điểm, cải vả qua lại nên anh và chị Phượng E sống riêng từ đầu năm 2022 đến nay không bên nào tìm cách hàn gắn lại nên anh T đồng ý ly hôn với chị Phượng E.

- Về con chung tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 24/11/2019, anh đồng ý tiếp tục nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Anh T đồng ý không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Anh T không có yêu cầu khác. Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần phiên họp, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho các đương sự và xét thấy việc chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Phượng E. Về hôn nhân cho chị Phượng E ly hôn với anh T. Về con chung tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 24/11/2019 đề nghị giao anh T được quyền nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản và nợ chung các đương sự không tranh chấp nên đề nghị không xem xét; Về án phí hôn nhân sơ thẩm căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc chị Phượng E phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Nguyễn Trọng T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Trương Thị Phượng E tranh chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Nguyễn Trọng T; địa chỉ khóm IV, thị trấn M, huyện C. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Trương Thị Phượng E và anh Nguyễn Trọng T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị Phượng E và anh T là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị Phượng E và anh T bất đồng quan điểm, anh chị không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2022 đến nay. Xét thấy, sau khi chị Phượng E và anh T không còn chung sống với nhau thì mỗi người có cuộc sống riêng, không bên nào tìm cách hòa giải hàn gắn lại, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Chị Phượng E và anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, anh T đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Phượng E và anh T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Phượng E.

Về quyền nuôi con: Giữa chị Phượng E và anh T có một người con tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 24/11/2019, chị Phượng E đồng ý để anh T tiếp tục nuôi con. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao người con tên Nguyễn Tấn L cho anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con sau khi ly hôn là đảm bảo cuộc sống của con và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết chị Phượng E và anh T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Xét thấy trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết chị Phượng E và anh T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị Trương Thị Phượng E phải nộp 300.000 đồng theo quy định pháp luật. [8] Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên về trình tự, thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị Phượng E.

- Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Phượng E ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.

- Về quyền nuôi con: Giao anh Nguyễn Trọng T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 24/11/2019. Chị Trương Thị Phượng E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phượng E và anh T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ nợ phải thu, phải trả: Quá trình giải quyết vụ án chị Phượng E và anh T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trương Thị Phượng E phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015645 ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Chị Phượng E đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ