- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Trần Kim N và anh Phan Tấn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Kim N được ly hôn với anh Phan Tấn D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Kiều Oanh
2. Bà Nguyễn Ngọc Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Kim N, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2000 (có mặt);
Địa chỉ: ấp TT, xã LS, huyện KH, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Phan Tấn D, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1998 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp NQ, xã Đ, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Kim N trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Phan Tấn D chung sống với nhau chung sống với nhau vào tháng 6 năm 2017, đến ngày 18 tháng 6 năm 2019 đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện AB, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian chung sống chị và anh Phan Tấn D có 01 người con chung tên: Phan Thị Kim Ng, sinh ngày 08/01/2018, hiện nay đang chung sống với chị; về tài sản chung và nợ, chị và anh Phan Tấn D không có tài sản chung và không có nợ. Quá trình chung sống không hòa hợp, không quan tâm lo lắng cho chị, mọi việc làm ăn không có bàn bạc với chị, làm có tiền chi xài riêng từ đó chị và anh Phan Tấn D sống ly thân với chị từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay, không có liên hệ, hỏi thăm, sống không hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Phan Tấn D. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phan Thị Kim Ng, sinh ngày 08/01/2018 đến tròn 18 tuổi, tự lao động sinh sống được, chị không yêu cầu anh Phan Tấn D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ, chị và anh Phan Tấn D không có tranh chấp yêu cầu phân chia tài sản chung và cam kết không có nợ, chị không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
* Tại Biên bản xác minh ngày 24/02/2023, về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Anh Phan Tấn D, cư trú tại ấp NQ, xã Đ, huyện AB, tỉnh Kiên Giang hiện nay anh Phan Tấn D đi làm thuê, vắng mặt ở nhà nên không tống đạt văn bản tố tụng trực tiếp cho anh Phan Tấn D được, tuy nhiên anh Phan Tấn D thường xuyên về nhà, nhưng mỗi lần về không xác định được. Trong quá trình anh Phan Tấn D và chị Trần Kim N chung sống với nhau phát sinh mâu thuẫn không nắm rõ.
* Bị đơn anh Phan Tấn D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Phan Tấn D nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nuôi con của chị Trần Kim N nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn chị Trần Kim N và Phan Tấn D (Bản chính); Giấy chứng minh nhân dân tên Trần Kim N (Bản phô tô); Giấy khai sinh tên Phan Thị Kim Ng, sinh ngày 08/01/2018 (Bản sao); Biên bản xác minh ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trần Kim N yêu cầu được ly hôn với anh Phan Tấn D. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung tên Phan Thị Kim Ng, sinh ngày 08/01/2018 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được chị không yêu cầu anh Phan Tấn D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chị tự xác định, chị và anh Phan Tấn D không có tài sản chung, chị cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Phan Tấn D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, xác định mối quan hệ pháp luật, đưa tư cách đương sự tham gia tố tụng, về thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh, tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát đúng trình tự thủ tục và thời gian quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 48, Điều 51, Điều 68, các Điều 208, 209, 210, 211, 239 và Điều 247 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phan Tấn D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Trần Kim N yêu cầu được ly hôn với anh Phan Tấn D và yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Trần Kim N được ly hôn với anh Phan Tấn D. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị cho chị Trần Kim N tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị Trần Kim N không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, về tài sản chung và nợ, chị Trần Kim N tự xác định không có, không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Kim N yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Phan Tấn D và nuôi con. Bị đơn anh Phan Tấn D cư trú tại: ấp NQ, xã Đ, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phan Tấn D biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Trần Kim N khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Phan Tấn D nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Phan Tấn D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Trần Kim N và anh Phan Tấn D nhưng anh Phan Tấn D vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, đồng thời tại phiên toà chị Trần Kim N không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phan Tấn D theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Trần Kim N và anh Phan Tấn D chung sống với nhau vào tháng 6 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã Đ là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 87 ngày 18/6/2019, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Trần Kim N được ly hôn với anh Phan Tấn D, thời gian chị và anh Phan Tấn D chung sống với nhau không hòa hợp, anh Phan Tấn D không quan tâm lo lắng cho chị, mọi việc làm ăn không có bàn bạc với chị, làm có tiền chi xài riêng, từ đó chị và anh Phan Tấn D sống ly thân với chị từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay, anh Phan Tấn D không có liên hệ, hỏi thăm, sống không hạnh phúc. Chị thấy, chị và anh Phan Tấn D không còn tình cảm vợ chồng nên chị yêu cầu ly hôn với anh Phan Tấn D, nhưng anh Phan Tấn D không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Trần Kim N yêu cầu ly hôn với anh là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Kim N cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Phan Tấn D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Trần Kim N, cho chị Trần Kim N được ly hôn với anh Phan Tấn D là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Trần Kim N và anh Phan Tấn D có 01 người con chung tên: Phan Thị Kim Ng, sinh ngày 08/01/2018, hiện nay đang sống với chị Trần Kim N. Khi ly hôn, chị Trần Kim N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung; anh Phan Tấn D không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời con chung của anh chị còn nhỏ (hơn 05 năm 04 tháng tuổi), từ khi anh chị ly thân đến nay con chung của anh chị chung sống với chị Trần Kim N, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Trần Kim N, giao người con chung của anh chị cho chị Trần Kim N được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trần Kim N không yêu cầu anh Phan Tấn D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Trần Kim N tự xác định, anh chị không có tài sản chung, chị Trần Kim N cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Kim N được ly hôn với anh Phan Tấn D.
2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Phan Thị Kim Ng, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2018 cho chị Trần Kim N được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được. Hiện nay đang chung sống với chị Trần Kim N.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Kim N không yêu cầu anh Phan Tấn D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ, chị Trần Kim N tự xác định, anh chị không có tài sản chung, chị Trần Kim N cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Trần Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003925 ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Trần Kim N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 29/5/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Chi cục THADS huyện An Biên; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |