vanban.org

Bản án 60/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng:

Buộc bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K liên đới trả cho Ngân hàng TMCP B tiền gốc còn nợ là 1.950.000.000 (một tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng; tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi tổng cộng là 80.655.135 (Tám mươi triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn một trăm ba mươi lăm) đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "LV - T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/DS-ST
Ngày: 05-7-2023
V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín
dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tường Vi

2. Bà Phan Thị Cẩm Hồng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

Vào ngày 05 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2023/TLST-DS ngày 27/4/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2023/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B; Địa chỉ trụ sở: Tầng A Tòa nhà T, số B đường T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – Tổng giám đốc

Đơn vị được ủy quyền tham gia tố tụng: Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B1; Địa chỉ: Số C Đại Lộ Đ, phường D, thành phố B, tỉnh Bến Tre

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Ngọc P – Giám đốc Chi nhánh B1

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phan Trọng M – Chuyên viên khách hàng. (Có mặt)

Bị đơn:

+ Bà Nguyễn Thị Bảo T, sinh năm 1987;

+ Ông Diệp Văn K, sinh năm 1983;

Trú tại: Số A, ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K có ký kết với Ngân hàng TMCP B hợp đồng tín dụng số HDTD84020220292 ngày 16/6/2022, với thỏa thuận số tiền vay là 2.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 240 tháng, mục đích vay là thanh toán tiền mua đất, với lãi suất là 10 %/năm nhưng có điều chỉnh (theo Thông báo ngày 16/9/2022 thay đổi với mức lãi suất là 14,1%/năm); trả nợ gốc thành 80 kỳ với số tiền 25.000.000 đồng/kỳ, tiền lãi trả vào ngày 16 tây hàng quý theo dư nợ thực tế. Để đảm bảo các khoản vay, bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K có ký kết Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022 đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 114 tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T và ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ kỳ trả nợ ngày 16/12/2022 đến ngày 16/3/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng, không thực hiện việc thanh toán tiền gốc, tiền lãi đúng thời gian quy định nên khoản nợ đã được chuyển thành nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà T, ông K không thực hiện việc trả nợ.

Ngân hàng TMCP B yêu cầu bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K trả số tiền gốc còn nợ là 1.950.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi tổng cộng là 80.655.135 đồng; tổng cộng số tiền yêu cầu (tạm tính đến ngày 03/4/2023) là 2.030.655.135 đồng; tiếp tục tính lãi từ ngày 04/4/2023 đến khi trả tất nợ theo hợp đồng tín dụng số HDTD84020220292 ngày 16/6/2022.

Trường hợp bà T, ông K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022 đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 114, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Bảo T, ông Diệp Văn K vắng mặt không có lời trình bày .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Hợp đồng tín dụng đã thể hiện đầy đủ họ tên, năm sinh và địa chỉ của bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K, Tòa án tiếp tục xét xử theo thủ tục chung theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình tố tụng, Tòa án không có tiến hành thu thập chứng cứ, đối tượng tranh chấp không phải là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở; không có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa là đúng quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K1 có nơi cư trú tại số A, ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP B yêu cầu bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K trả số tiền gốc còn nợ là 1.950.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi tổng cộng là 80.655.135 đồng; tổng cộng số tiền yêu cầu (tạm tính đến ngày 03/4/2023) là 2.030.655.135 đồng; tiếp tục tính lãi từ ngày 04/4/2023 đến khi trả tất nợ theo hợp đồng tín dụng số HDTD84020220292 ngày 16/6/2022. Trường hợp bà T, ông K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022 đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 114, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ngân hàng cung cấp hợp đồng tín dụng số HDTD84020220292 ngày 16/6/2022; Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022; Thông báo nợ đến hạn, Thông báo thay đổi lãi suất cho vay, bảng kê tính lãi, bảng sao kê lịch trả nợ.

Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng với bà T, ông K1 xét về hình thức và nội dung là phù hợp theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Căn cứ vào bảng sao kê lịch trả nợ, thông báo nợ quá hạn ngày, bảng kê tính lãi do Ngân hàng cung cấp thể hiện bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng từ ngày 16/3/2023 theo các thỏa thuận trong hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Hiện tại, số nợ gốc bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K còn nợ là 1.950.000.000 đồng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý cùng hồ sơ khởi kiện (photo) của nguyên đơn cho bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K. Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K vắng mặt và không có ý kiến trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B, buộc bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K liên đới trả số tiền gốc còn nợ là 1.950.000.000 đồng.

Về lãi suất, do bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và tiền lãi nên khoản nợ của bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K đã chuyển sang nợ quá hạn là đúng quy định pháp luật, Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K thanh toán tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn; tiền lãi chậm trả lãi tổng cộng là 80.655.135 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 04/4/2023 đến khi trả tất nợ theo các mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD84020220292 ngày 16/6/2022 là phù quy định tại Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Đối với Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022 đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 114, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB034793 được Công chứng chứng thực tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đúng quy định. Do đó, trường hợp Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022 là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

- Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K phải chịu theo quy định.

- Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 357; Điều 463; Điều 466; 470 Bộ luật dân sự 2015;

- Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 227, Điều 228, Điều 147; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

- Điều 7; Điều 8; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng:

- Buộc bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K liên đới trả cho Ngân hàng TMCP B tiền gốc còn nợ là 1.950.000.000 (một tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng; tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi tổng cộng là 80.655.135 (Tám mươi triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn một trăm ba mươi lăm) đồng (tạm tính đến ngày 03/4/2023). Tổng cộng số tiền bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K liên đới trả cho Ngân hàng TMCP B là là 2.030.655.135 (Hai tỷ không trăm ba mươi triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn một trăm ba mươi lăm) đồng.

- Tiếp tục tính lãi từ ngày 04/4/2023 đến khi trả tất nợ theo các mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD84020220292 ngày 16/6/2022.

- Trường hợp bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số HĐTC23A2022174 ngày 16/6/2022 đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 114, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB034793.

2. Về án phí dân sự có giá ngạch:

- Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Diệp Văn K phải chịu là 72.613.103 (Bảy mươi hai triệu sáu trăm mười ba nghìn một trăm lẻ ba) đồng.

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí là 36.307.000 (Ba mươi sáu triệu ba trăm lẻ bảy nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005670 ngày 26/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ