vanban.org

Bản án 60/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Trả lại Chiếc xe máy nhãn hi u HONDA WAVERS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HS-ST
Ngày 12-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và bà Trần Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị

iang, Th ký Tòa án nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2022/TLST-HS ngày 24/3/2022 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử sơ thẩm số 68/2022/QĐXXST-HS ngày 31/3/2022 đối với:

Bị cáo: Dương Văn T, sinh năm: 1977 tại huy n K, tỉnh Hà Nam; nơi c trú: Xóm A, Thôn D, xã Đ, huy n K, tỉnh Hà Nam; nghề nghi p: ao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông D ơng Văn T1 và bà D ơng Thị H; bị cáo có vợ là D ơng Thị T và 03 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2021 đến nay.Có mặt.

Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị D ơng Thị T, sinh năm: 1977. Nơi c trú: Xóm A, Thôn D, xã Đ, huy n K, tỉnh Hà Nam, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 27/12/2021 tổ công tác Công an huy n Mộc Châu làm nhi m vụ tại tiểu khu B, xã Đ, huy n M tiến hành kiểm tra đối với D ơng Văn T đang điều khiển xe máy BKS: 90H9-0495. Qua kiểm tra phát hi n T đang cất giấu tại l ờn xe máy 01 chiếc khẩu trang y tế màu xanh bên trong chứa 01 gói nilon màu xanh đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 gói nilon màu trắng đựng 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hi u WY nghi là Methamphetamine. T khai nhận đó là ma tuý Heroine và Methamphetamine của T tàng trữ để sử dụng cho bản thân nghi n chất ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của D ơng Văn T, tổ công tác đã lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải D ơng Văn T đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu để điều tra, làm rõ.

Ngày 27/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu tiến hành xác định khối l ợng 05 viên nén màu hồng thu giữ của D ơng Văn T đ ợc 0,54 gam, lấy toàn bộ làm mẫu tr ng cầu giám định, mẫu có ký hi u T1; khối l ợng chất cục bột màu trắng thu giữ của D ơng Văn T đ ợc 0,38 gam, lấy toàn bộ làm mẫu tr ng cầu giám định, mẫu có ký hi u T2.

Tại Kết luận giám định số 144 ngày 30/12/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,54 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T2 là ma túy; loại Heroine khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,38 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,54 gam; loại Methamphetamine và 0,38 gam là loại Heroine.

Quá trình điều tra, D ơng Văn T khai nhận: Bản thân nghi n chất ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 27/12/2021 T điều khiển xe máy BKS: 90H9-0492 từ nơi làm thuê tại bản C, xã Đ, huy n M đến thị trấn M, huy n M để mua đồ. Khi đi đến bản C, xã Đ, T gặp và hỏi mua đ ợc của một ng ời đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng Heroine và 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 05 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng. Sau khi mua đ ợc ma túy, T cất giấu 02 gói ma túy vào 01 chiếc khẩu trang y tế đặt tại l ờn xe máy rồi điều khiển xe đến tiểu khu 34, xã Đông Sang gặp tổ công tác Công an huy n Mộc Châu kiểm tra, phát hi n, thu giữ.

Tại phiên tòa bị cáo D ơng Văn T trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội nh quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.

Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 22/3/2022 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu truy tố bị can D ơng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo D ơng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật nh sau:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo D ơng Văn T từ 27 tháng đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại 01 xe máy nhãn hi u Honda Wavers màu đỏ đen bạc, BKS 90H9-0495 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên D ơng Thị T cho chị D ơng Thị T.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ: D ơng Văn T, bắt ngày 27/12/2021 bên trong đựng vỏ mảnh nilon màu trắng, mảnh nilon màu hồng; 01 khẩu trang y tế màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy của D ơng Văn T, kq: D ơng tính.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại di n Vi n kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát.

ời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA N

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Mộc Châu, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo D ơng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huy n Mộc Châu thu giữ của bị cáo vào ngày 27/12/2021 có nguồn gốc mua đ ợc của một ng ời đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 500.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. ời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định vi c khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguy n và phù hợp với biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huy n Mộc Châu lập vào hồi 13 giờ 10 phút ngày 27/12/2021; biên bản niêm phong đồ vật, tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số l ợng, khối l ợng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài li u bị tạm giữ ; bản kết luận giám định số 144 ngày 30/12/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a kết luận “Mẫu gửi giám định ký hi u T1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối l ợng của mẫu gửi giám định là 0,54 gam. Mẫu gửi giám định ký hi u T2 là ma túy; loại Heroine khối l ợng của mẫu gửi giám định là 0,38 gam. Tổng khối l ợng ma túy thu giữ là 0,54 gam; loại Methamphetamine và 0,38 gam là loại Heroine”. Trong đó, Methamphetamine nằm trong danh mục II, số thứ tự 323 và Heroine nằm trong danh mục I, số thứ tự 09 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. ời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của ng ời có quyền lợi nghĩa vụ kiên quan, ng ời chứng kiến trong quá trình điều tra và các tài li u, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập đ ợc trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo D ơng Văn T là ng ời có đủ năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức đ ợc tác hại của vi c tàng trữ, sử dụng ma túy. Nh ng do nghi n chất ma túy nên ngày 27/12/2021 bị cáo D ơng Văn T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,54 gam Methamphetamine và 0,38 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Căn cứ quy định tại Điều 4, Ch ơng II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về vi c tính tổng khối l ợng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số Điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối l ợng của các chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của D ơng Văn T là 0,38 gam + 0,54 gam = 0,92 gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo D ơng Văn T không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà n ớc về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh h ởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa ph ơng.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Bị cáo đ ợc h ởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội đ ợc nhà n ớc tặng th ởng Huy ch ơng kháng chiến chống Mỹ hạng nhì đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là ng ời có nhân thân xấu, là đối t ợng nghi n hút chất ma túy. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định ng ời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối t ợng nghi n ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe máy nhãn hi u Honda Wavers màu đỏ đen bạc, BKS 90H9-0495 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên D ơng Thị T là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, vi c bị cáo sử dụng xe máy để đi mua ma túy, vợ bị cáo hoàn toàn không biết và không liên quan, do đó cần tuyên trả lại xe máy cho vợ bị cáo để quản lý, sử dụng.

Đối với 01 phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ: D ơng Văn T, bắt ngày 27/12/2021 bên trong đựng vỏ mảnh nilon màu trắng, mảnh nilon màu hồng; 01 khẩu trang y tế màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy của D ơng Văn T, kq: D ơng tính. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với ng ời đàn ông dân tộc Mông không quen biết đã bán ma túy cho D ơng Văn T tại bản C, xã Đ, huy n M. Quá trình điều tra không xác định đ ợc lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Thời hạn tạm giam của bị cáo còn d ới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo D ơng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo D ơng Văn T 27 (Hai m ơi bẩy) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 27/12/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả lại Chiếc xe máy nhãn hi u HONDA WAVERS, màu đỏ - đen - bạc, BKS: 90H9 - 0495, sm: 0840548, sk: 4308AY503616, 02 g ơng chiếu hậu, 01 chìa khóa gắn ở xe, yên rách, xe đã qua sử dụng và 01 iấy đăng ký mô tô xe máy số 006098 mang tên D ơng Thị T cho chị D ơng Thị T.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ: D ơng Văn T, bắt ngày 27/12/2021 bên trong đựng vỏ mảnh nilon màu trắng, mảnh nilon màu hồng; 01 khẩu trang y tế màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy của D ơng Văn T, kq: D ơng tính.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Bị cáo D ơng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo; ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ