- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn U phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn U phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HS-ST. Ngày: 14 - 7 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh thị Kim Oanh
Ông Mùi Văn Huấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2022/TLST- ST ngày 23 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Lò Văn U; tên gọi khác, không, sinh năm 1986, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Ch, xã Ch, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Tr, sinh năm 1952 và bà Vì Thị Ư, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/11/2011Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23/02/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị S, sinh năm 1987; Trú tại: Bản Ch, xã Ch, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/02/2022, Lò Văn U một mình điều khiển xe máy BKS 26B1-55891 đi từ nhà đến khu vực bản N, xã Ch, huyện V, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến ngã ba bản N thì rẽ vào bản Kh, xã Ch, U gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói Heroine được gói bằng gói nilon màu hồng với giá 50.000 đồng. Sau đó U cầm gói Heroine ở tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khi đi đến địa phận Bản Ch, xã Ch, huyện V thì gặp tổ công tác Công an xã Ch kiểm tra. Qua kiểm tra, Lò Văn U đã tự giác giao nộp gói Heroine đang cầm ở tay trái cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Lò Văn U đến Cơ quan CSĐT công an huyện V để điều tra xử lý.
Ngày 23/02/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện V, phối hợp với VKSND huyện V cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh số chất bột màu trắng khi bắt quả tang Lò Văn U được 0,23 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu U bàn giao gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy, khối lượng ma túy.
Tại kết luận giám định số 419 ngày 28/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu U là ma túy loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,23gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,23 gam Heroine. Hoàn lại chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định, ký hiệu U không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,10 gam.”
Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 23/05/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn U về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Lò Văn U phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn U từ 19 (Mười chín) tháng tù đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu + phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở và 0,1 gam Heroine; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn U.
Đối với chiếc xe máy BKS: 26B1-55891 là tài sản chung của bị cáo và vợ bị cáo, việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe. Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ½ giá trị chiếc xe.
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lò Văn U, 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn U là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Miễn án phí HSST cho bị cáo
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận rội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xin Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng múc án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 23/02/2022, Lò Văn U có hành vi tàng trữ trái phép 0,23 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn U phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân đã bị xử xét xử về tội trộm cắp tài sản, tuy được xóa án tích nhưng là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Lò Văn U đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu + phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở và 0,1 gam Heroine; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn U là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy BKS: 26B1-55891 nhãn hiệu HONDA, loại DREAM, sơn màu nâu là tài sản chung của bị cáo và vợ bị cáo. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy vợ bị cáo không biết nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe. Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị S ½ giá trị chiếc xe.
Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lò Văn U, 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn U là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo khai nhận đã mua của một người đàn ông không quen biết do đó cơ quan CSĐT không có căn cứ để điều tra người đã bán ma túy cho Lò Văn U.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Lò Văn U phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn U 21(Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu + phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở và 0,1 gam Heroine; 01phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn U.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy BKS: 26B1-55891 nhãn hiệu HONDA, loại DREAM, sơn màu nâu. Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị S ½ giá trị chiếc xe.
Trả lại bị cáo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lò Văn U, 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn U.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 56/BBVC-CCTHA ngày 23/05/2022.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền loại nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |