- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HS-ST Ngày: 21-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Việt Hùng.
Ông Mai Xuân Hoà.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu và trụ sở Công an huyện Hải Hậu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh năm 1985; nơi sinh và nơi cư trú: Tổ dân phố số X, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức B, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1959; anh em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai; có vợ là Phạm Thị Xuân H, sinh năm 1984 và có 01 con, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/6/2022 đến ngày 28/6/2022 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hậu. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Lưu Văn T, sinh năm 1960; vắng mặt.
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; vắng mặt.
2. Ông Phạm Đức B, sinh năm 1958; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 25/6/2022, Phạm Văn Đ đi bộ từ nhà ra cầu 1/5 thuộc Tổ dân phố số X, thị trấn T, huyện H rồi đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực thị trấn C, huyện H để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến cầu Cồn thuộc Tổ dân phố số Y, thị trấn C, Đ xuống xe đi bộ vào đường dong cạnh trường cấp 2 thị trấn C gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01gói Heroine với giá 300.000 đồng, sau đó Đ cầm gói Heroin trên tay phải rồi đi xe ôm về đến chợ xã Hải Hòa, huyện H tìm địa điểm sử dụng ma túy. Khi đi đến trước cửa hàng tạp hóa T thuộc xóm Xuân Hòa Đ, xã HH thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng Cửa khẩu cảng H phối hợp với Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Đình kiểm tra, phát hiện bắt quả tang vào hồi 08 giờ 50 phút cùng ngày. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đ 01 gói giấy nhỏ màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M). Đ khai nhận đó là Heroin vừa mua để sử dụng cho bản thân.
Tại Bản kết luận giám định số 932/KL-KTHS ngày 25/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy giấy nhỏ bạc màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy là Heroine. Khối lượng mẫu M là 0,482 gam.
Cáo trạng số 56/CT-VKSHH ngày 23/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận đã phạm tội. Bị cáo xin hứa sửa chữa lỗi lầm của bản thân và đề nghị được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 08 giờ 50 phút, ngày 25/6/2022 tại xóm Xuân Hoà Đ, xã HH, huyện H, tỉnh Nam Định, Tổ công tác của Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng H phối hợp với Đội đặc nhiệm phòng chống ma tuý Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Phạm Văn Đ đang cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,482 gam trong người để sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Ma tuý là chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng; làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người; làm khánh kiệt về kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình và chính ma tuý là nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm và làm lan truyền nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm, đặc biệt là HIV-AIDS. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó cần phải xử lý theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện chất ma tuý, có con nhỏ đang phải nuôi dưỡng. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, sau khi giám định xác định là Heroine. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông chở xe ôm để bị cáo đi mua ma tuý và người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào sáng ngày 25/6/2022 tại khu vực thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Phạm Văn Đ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 6 năm 2022.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine trong 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 932/KL-KTHS ngày 25/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
Vật chứng nêu trên được mô tả tại Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 15/9/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND + VKSND tỉnh Nam Định; - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Hải Hậu; - Công an huyện Hải Hậu; - Chi cục THADS huyện Hải Hậu; - UBND thị trấn T; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Trung Kiên |