vanban.org

Bản án 60/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D phạm tội “Đánh bạc”.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện G, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HS - ST
Ngày: 17-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hà Bắc;

Bà H2 Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H; sinh năm 1992, tại huyện Giao Thủy; nơi cư trú: Tổ dân phố Tiên Thọ, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nh (đa chết) và bà Phũ

̀ng Thi ̣ N; vợ là Nguyễn Thị Nt; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 27-4-2022 đến ngày 23-5-2022; hiện tại ngoại; “có mặt”.

2. Nguyễn Văn H1; sinh năm 1985, tại huyện Ý Yên; nơi ĐKHKTT: Xóm V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Lâm Khang, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (đa chết) và bà: Nguyễn Thi ̣̃

H; vợ là Dương Thị Lan A; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022 hiện tại ngoại; “có mặt”.

3. Cao Văn B; sinh năm 1974, tại huyện Giao Thủy; nơi cư trú: Tổ dân phố Hạ Chính, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân Tiến (Đa chết) và bà: Đỗ Thi ̣̃

Tơ; vợ là Lưu Thị Thanh;có03 con; tiền án, tiền sự: Không. bị tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022; hiện tại ngoại; “có mặt”.

4. Nguyễn Văn H2; sinh năm 1987, tại huyện Giao Thủy; nơi cư trú: Tổ dân phố Lâm Khang, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà: Trần Thi ̣ Kim N; vợ là Lò Thị Thúy K; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. bị tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022; hiện tại ngoại; “có mặt”.

5. Nguyễn Văn D; sinh năm 1982, tại huyện Giao Thủy; nơi cư trú: Tổ dân phố Tân Thượng, thị trấn Q, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà: Pha ̣m Thi ̣ H (Đều đa chết); vợ là Cao Thị Đ;̃ có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. bị tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022; hiện tại ngoại; “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H2: Bà Trần Thị Bình - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định; “có mặt”.

- Người làm chứng: anh Nguyễn Văn Q; anh Nguyễn Văn T; ông Nguyễn Văn L; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Trưa ngày 27-4-2022, Nguyễn Văn H cùng Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H2, Cao Văn B, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Th và Nguyễn Văn Hăn cơm ta ̣i nhà H. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong, H, H1, B, H2 và D thống nhất đánh ba ̣căn tiền hình thứ c đánh liêng ta ̣i nhà H vớ i mứ c vào gà 50.000 đồng/ván, tố không giớ i ha ̣n. H lấy 02 bô ̣ bài tú khơ có sẵn ở nhà mình rồi ngồi đánh ba ̣c ăn tiền cùng H1, B, H2 và D ta ̣i chiếu đa ăn cơm trưỡ

́ c đó, Thuỷ và Hải ngồi xem. Đến khoảng 14 giờ 10 cùng ngày, trong lúc H, H1, B, H2 và Dđang đánh ba ̣c ăn tiền thì bị tổ tuần tra Công an thi ̣ trấn Quất Lâm, huyê ̣n Giao Thuỷ phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.550.000 đồng, thu trên ngườ i các đối tượng 25.500.000 đồng; 02 bô ̣ bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa các đối tượng sử du ̣ng để đánh ba ̣c, 04 xe máy và 07 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng các loa ̣i.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi đánh bạc ăn tiền của mình như trên và xác định: Nguyễn Văn H có 200.000 đồng sử du ̣ng vào viê ̣c đánh ba ̣c, khi bi ̣ bắt H bỏ hết tiền xuống chiếu ba ̣c. Nguyễn Văn H1 mang theo số tiền 9.700.000 đồng sử du ̣ng vào viê ̣c đánh ba ̣c, bỏ ra 1.200.000 đồng đánh trướ c, khi bị bắt bi ̣ thu giữ 1.250.000 đồng dướ i chiếu ba ̣c và 8.500.000 đồng trên ngườ i. Cao Văn B mang theo 7.800.000 đồng sử du ̣ng vào viê ̣c đánh ba ̣c, bỏ ra 2.800.000 đồng để đánh trướ c, khi bi ̣ bắt, B bi ̣ thu giữ 2.850.000 đồng dướ i chiếu ba ̣c và 5.000.000 đồng trên ngườ i; Nguyễn Văn H2 sử dụng 3.500.000 đồng vào việc đánh bạc, khi bị bắt đang thắng, bị thu giữ 4.650.000 đồng dưới chiếu bạc. Nguyễn Văn D mang theo 2.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt đang thắng bỏ cả tiền xuống chiếu ba ̣c 2.050.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 55/CTR ngày 13-7-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu trên đồng thời tỏ ra ăn năn hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn hình phạt bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng; xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; xử phạt Cao Văn B từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; xử phạt Nguyễn Văn H2 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; xử phạt Nguyễn Văn D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là: 25.050.000 đồng; tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếu nhựa.

Người bào chữa cho bị cáo H2 nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì. Trước khi HĐXX vào nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng xin được tại ngoại tại địa phương

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 14 giờ 10 ngày 27-4-2022, ta ̣i nhà Nguyễn Văn H các bị cáo Nguyễn Văn H cùng Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Văn D đã có hành vi đánh ba ̣c ăn tiền bằng hinh thứ c đánh liêng ăn tiền thi bi ̣ tổ tuần tra Công

̀

̀ an thi ̣ trấn Quất Lâm phát hiê ̣n bắt quả tang, thu giữ số tiền 25.050.000 đồng các đối tượng sử du ̣ng vào viê ̣c đánh ba ̣c. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức đánh đánh liêng ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Xét vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt phù hợp:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết nhẹ theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo H, B, D hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo H1 bị sỏi thận và sỏi niệu quản đang phải điều trị; bị cáo H2 là hộ cận nghèo nên được hưởng tình tiết nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Trong vụ án này, các bị cáo cùng thực hiện phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn H là người chuẩn bị dụng cụ để các bị cáo đánh bạc tại nhà mình nên có vai trò cao hơn. Các bị cáo H1, B, H2, D giữ vai trò ngang nhau.

Qua đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù tuy nhiên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách bởi bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có hướng tự cải tạo, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tu D trong cộng đồng, vừa phát huy được tính phòng ngừa chung cũng như thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều lao động tự do, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Đối với số tiền 37.050.000 đồng thu giữ dướ i chiếu ba ̣c và thu trên ngườ i các đối tượng, quá trinh điều tra xà

́c đi ̣nh trong đó có 12.000.000 đồng là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Hải và anh Nguyễn Văn Thuỷ ngồi xem, không liên quan đến hành vi đánh ba ̣c, cơ quan điều tra đã trả la ̣i cho anh Hải và anh Thuỷ. Đối với số tiền 25.050.000 đồng thu giữ của các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước và tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếu nhựa thu giữ tại nhà Nguyễn Văn H.

Đối vớ i 07 chiếc điê ̣n thoa ̣i và 04 chiếc xe máy đa thu giữ

̃, quá trình điều tra xác đi ̣nh là tài sản hợp pháp của các bị cáo và của Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Thuỷ không liên quan đến hành vi đánh ba ̣c, cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho các bi ̣ cáo, anh Hải, anh Thuỷ là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-4-2022 đến ngày 23-5-2022).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cao Văn B 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm (đã tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm (đã tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm (đã tạm giữ từ ngày 27-4-2022 đến ngày 05-5-2022).

Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện G, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trườ ng hợp ngườ i được hưởng á n treo thay đổi nơi cư trú thi thực hiê ̣n theo

̀ quy đi ̣nh tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hà nh á n hinh sự. Trong thời gian thử thách,

̀ người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 25.050.000 đồng các bị cáo dùng đánh bạc. Tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếu nhựa thu giữ tại nhà Nguyễn Văn H (Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14-7-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).

3.Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời H thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ