- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn D phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Ủy ban nhân dân(UBND) xã G, huyện G, tỉnh N nhận được bản sao bản án và Quyết định thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------- Bản án số:60/2022/HS-ST Ngày 29 tháng 8 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Công Hiến, ông Đinh Duy Quyết.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G¸ tỉnh N tham gia phiên tòa: ông Vũ Văn Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh N, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/TLST-HS, ngày 20/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Vũ Văn D, tên gọi khác: không, sinh năm 1975 tại G, G, N.
Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh N; Quốc tịch Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 7/12; con ông Vũ Đức M và bà Nguyễn Thị R, có vợ là Nguyễn Thị C và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1999 ; tiền án: ngày 28 tháng 9 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh N, xử phạt 9.000.000 đồng, về tội: “đánh bạc”, theo bản án số 59/2017/HSST, chấp hành xong bản án ngày 19/8/2022, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: “cấm đi khỏi nơi cư trú”; bị caó không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1986 - Vắng mặt.
Trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh N.
2. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1974 – Vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt.
Trú tại: xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh N.
3. Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1960 – Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
Trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh N.
4. Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1964 – Vắng mặt
Trú tại: tổ 43, khu phố 3 Ph, phường 11, thành phố V, tỉnh B- V.
Người làm chứng: anh Phạm Xuân Tr. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố số 5, phường Ph, quận N, thành phố H; Nguyễn Văn Th, sinh năm 1974, trú tại xóm Đ, xã G, huyện G; Phạm Văn Th, sinh năm 1964, trú tại tổ 43, khu phố 3 Ph, phường 11, thành phố V, tỉnh B– V và Vũ Văn D, là anh em họ hàng với nhau. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/4/2022, Q, D, Th, Th cùng ăn cơm tại nhà ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1960 ở thôn T, xã G, huyện G (là bố đẻ của Q). Trong quá trình ăn cơm, Q nói với D, Th và Th “Chú cháu uống rượu xong thì giao lưu tí phỏm cho vui” - ý rủ mọi người tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền; D, Th, Th đồng ý. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, Q lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn ở trên ghế tại phòng khách, rồi cùng D, Th và Th ngồi xuống chiếu trải sẵn ở phòng khách nhà ông Ph đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền, mức thấp nhất là 5.000 đồng/người/ván, mức cao nhất là 20.000 đồng/người/ván. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, trong khi Q, D, Th và Th đang đánh bạc, thì bị tổ công tác Công an xã G kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác đã thu giữ tại vị trí đánh bạc số tiền 2.802.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói in hình hoa văn, 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra xác định số tiền Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Văn Th, Phạm Văn Th và Vũ Văn D sử dụng để đánh bài ăn tiền ngày 23/4/2022 là 2.802.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại 01 ví giả da màu nâu cho Phạm Văn Th.
Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã ra quyết định chuyển số tiền 2.802.000 đồng đến tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, chuyển 01 chiếu cói in hình hoa văn, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G
Qúa trình điều tra vụ án, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 56/CT- VKS- GV, ngày 19/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố bị cáo Vũ Văn D ra trước Tòa án nhân dân huyện G để xét xử về tội “đánh bạc” theo các khoản 1, 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về Bản cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng đã nêu, sau khi luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “đánh bạc”. Áp dụng khoản các 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 36, 47 Bộ luật Hình sự(BLHS), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS). Xử phạt bị cáo Vũ Văn D từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Ủy ban nhân dân(UBND) xã G nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Vũ Văn D cho UBND xã G, huyện G, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Khấu trừ từ 10% đến 15% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án tương ứng với số tiền từ 458.300 đồng/tháng đến 687.500 đồng/tháng để nộp ngân sách Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo D từ 10.000.000 đ (mười triệu đồng) đến 12.000.000 đ(mười hai triệu đồng); tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.802.000 đồng (hai triệu tám trăm linh hai nghìn đồng); tịch thu tiêu huỷ 01 chiếu cói in hình hoa văn, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS). Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Phân tích những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn nhận tội. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: Xuất phát từ việc có quan hệ anh em họ hàng với nhau nên tối ngày 23/4/2022, Nguyễn Trọng Q, Vũ Văn D, Nguyễn Văn Th, Phạm Văn Th cùng ăn cơm tại nhà ông Nguyễn Văn Ph. Trong quá trình ăn cơm, Q nói với D, Th và Th “chú cháu uống rượu xong thì giao lưu tí phỏm cho vui” – ý rủ đánh bài ăn tiền và được mọi người đồng ý. Khoản 21 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong, Q lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn ở trên ghế tại phòng khách, rồi cùng D, Th và Th ngồi xuống chiếu trải sẵn ở phòng khách nhà ông Ph đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “phỏm”. Người thua phải trả cho người thắng, mức thấp nhất là 5.000 đồng/người/ván, mức cao nhất là 20.000 đồng/người/ván. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, trong khi Q, D, Th và Th đang đánh bạc, thì bị tổ công tác Công an xã G kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa xác định tổng số tiền bị cáo D cùng các đối tượng Q, Th, Th sử dụng vào mục đích đánh bài ăn tiền ngày 23/4/2022 là 2.802.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, với lời khai người có quyền lợi liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở khẳng định bị cáo D là người đang có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “phỏm” đúng như Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên nên đã phạm tội “đánh bạc”. Căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và số tiền bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo D theo khoản 1, 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 321: Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
…
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo là người đã thành niên, có gia đình vợ con đàng hoàng nhưng không chịu rèn luyện, tu chí làm ăn chân chính. Chỉ vì mong muốn kiếm tiền bất chính dẫn đến phạm tội. Do đó cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Trên cơ sở tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét bị cáo D có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cải tạo không giam giữ tại địa phương cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Cần khấu trừ thu nhập hàng tháng là 10%/tháng trên mức thu nhập bình quân của bị cáo theo mức thu nhập trung bình tại địa phương qua xác minh là 55.000.000đ/năm, tương ứng 4.583.333đ/tháng. Khấu trừ 10%/tháng của bị cáo thành tiền là 458.300 đồng/tháng(tính tròn) để nộp ngân sách Nhà nước
Về hình phạt bổ xung: xét bị cáo đã từng bị kết án về tội đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là thỏa đáng.
Về xử lý vật chứng: đối với số tiền 2.802.000 đồng mà bị cáo và các đối tượng Q, Th, Th sử dụng vào mục đích đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với ví giả da màu nâu thu giữ tại vị trí đánh bạc. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của Phạm Văn Th không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại tài sản trên cho Th, là phù hợp.
Đối với 01 chiếu cói in hình hoa văn, đây là tài sản của ông Nguyễn Văn Ph nhưng cũng là công cụ các đối tượng sử dụng mục đích đánh bạc; 01 bộ tú lơ khơ 52 quân là công cụ bị cáo và các đối tượng sử dụng mục đích đánh bạc; các tài sản này đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra trong vụ án còn có các đối tượng: Nguyễn Văn Th, Nguyễn Trọng Q, Phạm Văn Th tham gia đánh bạc cùng Vũ Văn D, số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.802.000 đồng. Quá trình điều tra xác định các đối tượng Nguyễn Văn Th, Nguyễn Trọng Q, Phạm Văn Th đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đều chưa có tiền án về các tội: “đánh bạc”, “tổ chức đánh bạc” hoặc “gá bạc”. Vì vậy, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Trọng Q, Phạm Văn Th không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Hành vi của Nguyễn Văn Th, Nguyễn Trọng Q, Phạm Văn Th đã bị Công an huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1960 ở thôn T, xã G, huyện G (là bố đẻ của Nguyễn Trọng Q). Quá trình các đối tượng đánh bạc ăn tiền tại nhà mình, ông Ph không biết, không tham gia, không thu tiền của người đánh bạc. Vì vậy, ông Ph không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo Bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào các khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 36, 47 Bộ luật Hình sự, các Điều 106, 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: bị cáo Vũ Văn D phạm tội “đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Ủy ban nhân dân(UBND) xã G, huyện G, tỉnh N nhận được bản sao bản án và Quyết định thi hành án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo D trong 12(mười hai) tháng, mỗi tháng là 458.300 đồng để nộp ngân sách Nhà nước (bốn trăm năm mươi tám nghìn ba trăm đồng). Phạt bổ sung bị cáo D 10.000.000 đ (mười triệu đồng). Giao bị cáo Vũ Văn D cho UBND xã G, huyện G, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.802.000 đồng (hai triệu tám trăm linh hai nghìn đồng) đang gửi tại tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếu cói in hình hoa văn, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân. (Đặc điểm chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, ngày 20/7/2022).
3. Về án phí: buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người phải thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh N; - CQĐT Công an huyện G; - Thi hành án dân sự H. G; - Viện kiểm sát H. G; - Bị cáo; - Người than gia TT khác; - Lưu HS, VP | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Quốc |