vanban.org

Bản án 60/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 28/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Việt T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Đỗ Việt T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn t của ị cáo t nh từ ngày 29/03/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Việt T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Việt T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ- TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60 /2022/HS-ST
Ngày: 28/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân: Ông Khƣơng Văn Phƣơng và ông Trƣơng Văn Kế

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyên Ba Vì, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Út,,Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 07 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXX - HSST ngày 14 tháng 07 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Việt T, sinh năm: 1975, Nơi cư trú: Thôn ĐH, thị trấn TĐ, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Đỗ Viết S, sinh năm: 1942; Con bà: Lê Thị T3, sinh năm: 1946; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nh n th n: Ngày 22/6/2020, T bị Công an huyện Ba Vì ử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi tàng tr trái ph p chất ma túy, bằng hình th c phạt tiền 1.500.000 đ ng. T chấp hành xong việc nộp phạt ngày 20/7/2020. Bị cáo bị bắt tạm gi , tạm giam từ ngày 29/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h30’ ngày 29.3.2022, Cơ quan CSĐT- CA huyện Ba Vì tiến hành tu n tra, kiểm soát tại TT T y Đằng thì phát hiện bắt quả tang Đỗ Việt T đang có hành vi tàng tr trái phép chất ma túy tại khu vực cánh đ ng thuộc thôn C - thị trấn TĐ- huyện Ba Vì. Vật ch ng thu gi g m: 01 gói giấy màu trắng anh loại giấy lịch , ên trong ch a chất ột màu trắng nghi là ma túy , thu gi dưới đất cạnh ch n T đ ng. T khai đ y là ma túy Heroine, T tàng tr để sử dụng cho ản th n; 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO màu anh, có 02 sim số 0963.435.458 và 0866.648.030 của Tiến. Ngày 29.3.2022, T khai sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua ma túy.

Tại Cơ quan CSĐT - CA huyện Ba Vì, Đỗ Việt T khai nhận: Do có quen và iết chị P không r đ y đủ h tên, khoảng 40 tu i, ở c ng , thuộc TT T y Đằng-huyện Ba Vì có ma túy án từ trước, nên Đỗ Việt T đ g i điện thoại cho P vào khoảng hơn 09h ngày 29/03/2022 để hỏi mua một gói ma túy Heroine với giá 200.000 đ ng thì P đ ng ý. Một lúc sau, P g i điện thoại lại bảo T là đ để một gói ma túy ở gốc cây khô chỗ “cống sập” trên đoạn đường mương thuộc thôn Chợ Chàng- TT. TĐ- H. Ba Vì- TP. Hà Nội, khi nào T lấy được gói ma túy thì để lại 200.000đ ở vị trí gốc cây khô để trả tiền cho P, P sẽ ra lấy tiền sau, T đ ng ý. Sau đó, T đi ộ từ nhà ra địa điểm h n giao dịch thì thấy có một gốc c y khô, dưới gốc cây có một túi nilong màu h ng bên trong có 01 gói giấy màu trắng xanh (loại giấy lịch) ch a ma túy Heroine. Lúc này, T nhặt, c m gói ma túy trên tay phải r i v t ỏ chiếc túi nilong c ên ngoài, đ ng thời nhặt 01 mảnh nilong khác ở dưới đất quấn bên ngoài số tiền 200.000đ và để ở dưới gốc cây khô (vị trí T vừa nhặt gói ma túy để trả tiền mua ma túy cho P. Sau khi lấy được ma túy, T đi ộ ra đoạn đường cánh đ ng thuộc C- TT. TĐ để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Ba Vì phát hiện có iểu hiện nghi vấn nên đ yêu c u kiểm tra, do hoảng sợ T đ thả gói ma túy xuống đất cạnh ch n mình đ ng nhưng đ ị lực lượng Công an phát hiện, ắt quả tang, đ ng thời thu gi toàn bộ tang vật.

Ngày 29.3.2022, Cơ quan CSĐT-CA huyện Ba Vì ra quyết định trưng c u giám định số 111 đối với 01 gói ch a chất ột màu trắng thu gi được. Tại Bản kết luận giám định số 2135/KL-KTHS ngày 05.4.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hà Nội kết luận:

Các cục chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu xanh trắng (loại giấy

lịch), là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,276 gam.

Quá trình điều tra, T c n khai nhận đ mua ma túy của P nhiều l n, l n g n nhất là ngày 28/3/2022, việc thỏa thuận, trao đ i và địa điểm giao dịch mua án ma túy như ngày 29/3/2022. Toàn ộ số ma túy mua được T đều đ sử dụng hết cho bản thân. T hành thử test tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với T: kết quả dương tính với ma túy.

Đối với người phụ n tên P: Cơ quan CSĐT đ điều tra ác định đối tượng là Tr n Thị P SN 1979- ở TT T y Đằng- huyện Ba Vì- TP Hà Nội . Chị P khai nhận từ trước đến nay, không mua án ma túy với ai, không sử dụng sim điện thoại số 0325.786.973. Ngày 29/3/2022, P không liên lạc trao đ i gì với Đỗ Việt T. Do vậy không có căn c để xử lý P trong vụ án này.

T hành xác minh theo số điện thoại 0325.786.973 mà T khai đ liên lạc, trao đ i hỏi mua ma túy, ác định chủ sở h u là anh Vũ Văn Ph (SN 1987- ở Minh Tân- Phù Cừ- Hưng Yên . Anh Ph khai nhận số thuê bao trên là của mình, do không còn sử dụng nên anh đ v t bỏ từ cuối năm 2020, anh Ph không biết hiện ai đang sử dụng số thuê bao trên.

Đối với vật ch ng đ thu gi , Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đ ra Quyết định chuyển vật ch ng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì để phục vụ quá trình giải quyết án.

* Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 05 tháng 07 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố Đỗ Việt T về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đ truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà gi quyền công tố phát biểu luận tội vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

* Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Việt T phạm tội“ Tàng tr trái phép chất ma tuý”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Việt T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về xử lý vật ch ng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật mang tên Đỗ Việt T do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hà Nội hoàn trả sau giám định.

Tịch thu phát mại sung công: 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO màu anh, có 02 sim số 0963.435.458 và 0866.648.030 của Tiến.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Việt T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đ nêu. X t lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu ch ng c có trong h sơ vụ án, biên bản bắt người phạm tội của quả tang, tang vật cơ quan điều tra thu gi . Kết luận giám định số: 2135/KL-KTHS ngày 05.4.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: " Các cục chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu xanh trắng (loại giấy lịch), là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,276 gam. ". Như vậy Hội đ ng xét xử đ có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 09h30’ ngày 29.3.2022, tại khu vực cánh đ ng thôn Chợ Chàng- thị trấn TĐ- huyện Ba Vì- TP Hà Nội, Đỗ Việt T đ có hành vi tàng tr trái phép chất ma túy loại Heroine với khối lượng 0,276 nhằm mục đ ch sử dụng cho ản th n thì ị phát hiện bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Việt T đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Việt T về tội danh và điều luật trên là có căn c , đúng pháp luật.

Đối với người phụ n tên Phượng: Cơ quan CSĐT đ điều tra ác định đối tượng là Tr n Thị P SN 1979- ở TT T y Đằng- huyện Ba Vì- TP Hà Nội . Qua điều tra P khai từ trước đến nay, không mua án ma túy với ai, không sử dụng sim điện thoại số 0325.786.973. Ngày 29/3/2022, P không liên lạc trao đ i gì với Đỗ Việt T. CQĐT không đủ cơ sở để xử lý P trong vụ án này. Do vậy HĐXX không giải quyết.

Đối với số điện thoại 0325.786.973 mà T khai đ liên lạc, trao đ i hỏi mua ma túy, cơ quan điều tra ác định chủ sở h u là anh Vũ Văn Ph (SN 1987- ở Minh Tân- Phù Cừ- Hưng Yên . Anh Ph khai nhận số thuê bao trên là của mình, nhưng anh Ph đ v t bỏ từ cuối năm 2020, hiện ai đang sử dụng số thuê bao trên thì anh không biết. Do vậy CQĐT không có căn c để xử lý trong vụ án. Nên Hội đ ng xét xử không giải quyết.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm tr ng, hành vi phạm tội của bị cáo đ m phạm đến ch nh sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn gây t n hại đến s c khỏe, nòi giống con người, ảnh hưởng lớn đến mái ấm, hạnh phúc của từng gia đình, g y mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận th c rõ ma túy là chất gây nghiện mà ma túy c n là độc dược do Nhà nước thống nhất quản lý, m i hành vi mua bán, sản xuất, tàng tr , vận chuyển trái phép chất ma túy đều vi phạm pháp luật. Nhưng ị cáo đ ất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi “Tàng tr trái phép chất ma túy”. Vì vậy c n phải có m c án nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Xét về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải nên Hội đ ng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nh một ph n hình phạt cho bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 22/6/2020, T bị Công an huyện Ba Vì ử phạt vi phạm hành ch nh số 161724 về hành vi tàng tr trái ph p chất ma túy ằng hình th c phạt tiền 1.500.000 đ ng. T chấp hành xong việc nộp phạt ngày 20/7/2020 . Tuy nhiên T không lấy đó làm ài h c để tu dưỡng rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội.

Sau khi xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đ ng xét xử xét thấy c n phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định tại Điều 38 BLHS năm 2015 như vậy mới có thể giúp bị cáo nhận ra nh ng sai l m của mình để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự c n quy định người phạm tội có thể bị phạt b sung từ năm triệu đ ng đến năm trăm triệu đ ng. Tuy nhiên xét thấy tài liệu, ch ng c có trong h sơ thì ị cáo không có công ăn việc làm, thu nhập n định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Về vật ch ng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- C n tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật mang tên Đỗ Việt T do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau giám định.

- C n Tịch thu phát mãi để sung vào ng n sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO màu anh, đ cũ, không khởi động được ngu n có 02 sim của Tiến. Quá trình điều tra ác định bị cáo dùng chiếc điện thoại trên làm phương tiện liên lạc mua ma túy.

- Về án phí: Áp dụng điều khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội khóa 14.

Bị cáo phải chịu án ph theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Việt T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Đỗ Việt T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn t của ị cáo t nh từ ngày 29/03/2022.

3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật mang tên Đỗ Việt T do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau giám định.

- Tịch thu phát m i để sung vào ng n sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO màu anh, đ cũ không khởi động được ngu n ên trong có 02 sim của Tiến.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/07/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì và CQĐT Công an huyện Ba Vì)

4. Án phí : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Bị cáo Đỗ Việt T phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ