- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07 tháng 9 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HS-ST Ngày 16-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Minh.
Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2022/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam;tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là: Phạm Xuân Q và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/9/2022, đến ngày 10/9/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người chứng kiến:
Ông Trương Văn T. Vắng mặt.
Ông Vũ Văn Đ. Vắng mặt.
Bà Lê Thị N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020. Khoảng 08 giờ sáng ngày 07/9/2022 D đi xe ôm đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng gặp và mua 2.000.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi. Người đàn ông đưa cho D một túi nilon màu trắng và một đoạn ống nhựa màu hồng bên trong chứa ma túy đá. D cất vào túi có khóa kéo rồi để vào túi áo chống nắng đang mặc, sau đó đi về bến đò cũ thuộc thôn L để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ trong túi áo chống nắng bên trái của D đang mặc trên người có một túi da màu nâu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (5,5×4)cm chứa tinh thể màu trắng và 01 ống nhựa màu hồng được hàn hai đầu, kích thước (2,8×0,9)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy, niêm phong ký kiệu M).
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D tại thôn K, xã T phát hiện và thu giữ: Tại ngăn tủ kê ở cuối giường ngủ của D có 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đen đục 02 lỗ (một lỗ gắn tẩu thủy tinh, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng dài 27,5cm); 01 kéo có tay cầm bằng nhựa màu xanh dài 13cm; 02 ống hút nhựa màu tím dài 28 cm; 02 đoạn ống hút nhựa có một đầu hàn kín màu hồng dài 2,2cm; 01 bật lửa ga màu đỏ là vật dụng của D dùng để sử dụng ma túy đá.
Bản giám định chất ma túy số 448 ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,13 gam, là loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 06 đến 07 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị các vấn đề xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với quy định của pháp luật.
Về tội danh đối với hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại khu vực bến đò cũ thuộc thôn L, xã T, huyện A, Hải Phòng, Nguyễn Văn D đã có hành vi cất giữ trái phép 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 ống nhựa màu hồng được hàn hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng; qua giám định kết luận là chất ma túy Methamphetamin, có trọng lượng 5,13 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, các chất hướng thần, đồng thời còn gây mất trật tự trị an xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là quân nhân xuất ngũ. Vì vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hội đồng xét xử xét thấy mức án Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo hiện không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Lượng ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư niêm phong số 448MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng là vật nhà nước cấm lưu hành; một túi da màu nâu đen có khóa kéo kích thước (8,5×5,5)cm; 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đen đục 02 lỗ (một lỗ gắn tẩu thủy tinh, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng dài 27,5cm); 01 kéo có tay cầm bằng nhựa màu xanh dài 13cm; 02 ống hút nhựa màu tím dài 28 cm; 02 đoạn ống hút nhựa có một đầu hàn kín màu hồng dài 2,2cm; 01 bật lửa ga màu đỏ là vật dụng của Dân dùng để sử dụng má tuý nên tịch thu tiêu huỷ.
Về một số vấn đề khác: Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi bán ma túy cho Nguyễn Văn D tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân hiện chưa xác định được là ai, ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão tách ra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249 điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07 tháng 9 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ lượng ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư niêm phong số 448MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 01 (một) túi da màu nâu đen có khóa kéo kích thước (8,5×5,5)cm; 01 (một)chai nhựa màu trắng, nắp màu đen đục 02 lỗ (một lỗ gắn tẩu thủy tinh, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng dài 27,5cm); 01 (một) kéo có tay cầm bằng nhựa màu xanh dài 13cm; 02 (hai) ống hút nhựa màu tím dài 28 cm; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa có một đầu hàn kín màu hồng dài 2,2cm; 01(một) bật lửa ga màu đỏ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 11 năm 2022 giữa Công an huyện An Lão và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão).
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP Hải Phòng; - VKS ND TP. Hải Phòng; - VKS ND huyện An Lão; - Phòng PC06 – Công an TP Hải Phòng; - Công an huyện An Lão; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Chi cục THA DS huyện An Lão; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Định |