- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cao T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HS-PT Ngày: 13-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Lê Cao T do có kháng cáo của bị cáo Lê Cao T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2022/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Cao T, sinh năm 1987 tại Bình Định; nơi cư trú: Khu phố 4, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ đá granite; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê B, sinh năm 1965 và bà: Cao Thị Y, sinh năm 1967; Vợ: Hồ Thị Tr, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/6/2021 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Huỳnh Khắc B, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Khu phố 4, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Khu phố E, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
3. Ông Tăng Văn C, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Khu phố 5, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Định (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Khu phố 4, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng trưa ngày 31/5/2021, Lê Cao T mua ma túy của một thanh niên sử dụng số điện thoại 0989477241, không rõ nhân thân, lý lịch với giá 500.000 đồng và đem về phòng trọ (của ông Tăng Văn C, sinh năm 1961, ở khu phố 5, phường A, thị xã H) cất giấu. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/6/2021, sau khi thống nhất góp tiền mua 300.000 đồng mua ma túy về sử dụng cùng với 01 thanh niên tên G (khoảng 34 tuổi, ở A, H), Nguyễn Minh Đ (sinh ngày 26/8/1989, ở khu phố E, phường A, thị xã H) gọi điện thoại cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy. T đồng ý và hẹn Đ đến đoạn đường bê tông, gần Miếu cúng thanh minh thuộc khu phố 1, phường A để nhận ma túy. Lúc này, T chiết khoảng 1/2 lượng ma túy đã mua vào ngày 31/5/2021 vào túi nilon rỗng có sẵn trong phòng rồi hàn kín lại, dùng băng keo trắng quấn lại rồi đem đi giao cho Đ. Khi đi đến Miếu cúng thanh minh, T để gói ma túy lên gốc dừa gần đó. Sau đó, T gặp Đ và G, Đ đưa T 300.000 đồng, T chỉ cho Đ chỗ để ma túy. Đ đến gốc dừa cầm ma túy về sử dụng hết cùng với G.
Cũng với phương thức, thủ đoạn như trên, vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/6/2021, T mua 500.000 đồng ma túy của thanh niên sử dụng số điện thoại 0989477241 và đem về phòng trọ cất giấu. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/6/2021, Huỳnh Khắc B (sinh ngày 03/6/2021, ở khu phố 4, phường A, thị xã H) hỏi T mua ma túy với giá 200.000 đồng. T đồng ý và hẹn B đến phòng trọ của T để nhận ma túy. T lấy gói ma túy đã mua vào ngày 04/6/2021, chiết ra khoảng gần 2/5 lượng ma túy ban đầu vào bịch nilon, hàn kín lại và bỏ vào bịch “NesCafe”. Khoảng 14 giờ ngày 05/6/2021, B đến phòng trọ của T đưa cho T 200.000 đồng, T đưa cho B gói “NesCafe” bên trong có túi nilon chứa ma túy. Sau đó, B đem số ma túy đã mua của T về nhà sử dụng. Riêng với lượng ma túy còn lại, T lấy ra 1/5 so với ban đầu sử dụng, 2/5 lượng ma túy còn lại bỏ vào trong 01 gói nilon màu trắng, kích thước (3x1,2)cm, hàn kín cất giấu tại phòng trọ với mục đích bán cho đối tượng khác.
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 05/6/2021, Công an thị xã H tiến hành kiểm tra lưu trú tại nhà trọ của ông Tăng Văn C (sinh năm 1961, ở khu phố 5, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Định). Qua kiểm tra tại phòng số 02 (phòng trọ của Lê Cao T) phát hiện và thu giữ 01 gói nilon màu trắng, kích thước (3x1,2)cm, được hàn kín, bên trong có các hạt tinh thể không màu nghi là ma túy và một số dụng cụ sang chiết ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy khác.
Kết luận giám định số 176/PC09 ngày 07/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận: “các hạt tinh thể không màu đựng bên trong 01 (một) gói nilon kích thước (3x1,2)cm (ký hiệu A) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0708 gam là (loại): Methamphetamine”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Cao T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Cao T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/6/2021.
- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 24/01/2022, bị cáo Lê Cao T có đơn kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội và hình phạt cao. Tại phiên tòa bị cáo xin rút kháng cáo không phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 02 đến 03 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Cao T đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Trong giai đoạn điều tra, lúc đầu bị cáo khai nhận có 02 lần mua ma túy của một thanh niên sử dụng số điện thoại 0989477241, không rõ nhân thân, lý lịch, mỗi lần mua với giá 500.000 đồng và đem về phòng trọ cất giấu. Sau khi mua được ma túy, bị cáo có 02 lần bán lại một phần ma túy mua được cho các đối tượng Nguyễn Minh Đ và Huỳnh Khắc B, cụ thể: vào ngày 01/6/2021, bị cáo bán cho Nguyễn Minh Đ 300.000 đồng ma túy và ngày 5/6/2021 bán cho Huỳnh Khắc B 200.000 đồng ma túy. Nhưng sau đó bị cáo thay đổi thời khai không thừa nhận việc mua bán ma túy với Nguyễn Minh Đ và Huỳnh Khắc B. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận có 02 lần bán ma túy mua được cho các đối tượng Nguyễn Minh Đ và Huỳnh Khắc B như lời khai nhận tội ban đầu tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các đối tượng Huỳnh Khắc B và Nguyễn Minh Đ về thời gian, địa điểm số lần mua bán ma túy, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận trong các ngày 01/6/2021 và ngày 05/6/2021, bị cáo bán trái phép chất ma túy 02 lần cho Nguyễn Minh Đ và Huỳnh Khắc B. Do đó Tòa án nhân dân thị xã H xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai báo quanh co, không thừa nhận hành vi phạm tội nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã H áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 10 (mười) năm tù là tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, đã biết ăn năn hối cải và tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm được hòa nhập với cộng đồng và cũng là thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Cao T, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Cao T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/6/2021.
3. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Cao T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1.TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT Công an Thị xã H; - Cơ quan THAHS Công an Thị xã H; - Chi cục THADS Thị xã H; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Duy |