vanban.org

Bản án 60/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hà A về “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Nguyễn Thiên B. 1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hà A được ly hôn với ông Nguyễn Thiên B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2022
V/v: “Ly hôn,
Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Duy Đạt

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Mến

Bà Ngô Thị Quốc Thanh

-Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy-Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư-Kiểm sát viên.

Ngày 16-6-2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 367/2021/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2021 về “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/5/2022, giữa:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hà A, sinh năm 1990; nơi cư trú: 23/9 khu phố 3, thị trấn 2, xã 1, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; (vắng mặt)

-Bị đơn: Ông Nguyễn Thiên B, sinh năm 1989; nơi cư trú: 23/9 khu phố 3, thị trấn 2, xã 1, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hà A trình bày:

Về hôn nhân: Bà A và ông Nguyễn Thiên B tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2021, được UBND thị trấn 2, huyện Xuyên Mộc cấp chứng nhận kết hôn số 72, ngày 06/6/2016 hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức hỏi, cưới. Sau khi lấy nhau cả hai về chung sống tại 23/9 khu phố 3, thị trấn 2, xã 1;

Bà A và ông B chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do vợ chồng không thấu hiểu nhau, bất đồng chính kiến, thường xảy ra cãi vã dẫn đến vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc. Từ đầu năm 2021 đến nay vợ chồng đã ly thân. Nhận thấy vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không có nên bà A yêu cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà A và ông B có 01 con chung tên Nguyễn Thiên AB, sinh ngày 25/9/2017 hiện đang sống cùng bà A; bà A yêu cầu giao cháu AB cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông B cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Bị đơn ông Nguyễn Thiên B có bản tự khai trình bày: Ông B thống nhất với bà A về thời điểm và điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung, cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Ông B đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà A. Ông B đồng ý giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông B không cấp dưỡng cho con. Ông B đồng ý không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Việc Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc thụ lý vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, HĐXX cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án này đúng theo những quy định của BLTTDS. Tuy nhiên bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Về yêu cầu của nguyên đơn thì thấy, hôn nhân giữa bà A và ông B là hôn nhân hoàn toàn hợp pháp, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa hai bên đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A; bà A và ông B có 01 con chung tên Nguyễn Thiên AB, sinh ngày 25/9/2017 hiện đang sống cùng bà A; bà A và ông B cùng thống nhất giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của con chung nên cần chấp nhận. Bà A, ông B không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Bà A yêu cầu ly hôn với ông B, yêu cầu giải quyết về con chung, ông B có hộ khẩu thường trú tại huyện Xuyên Mộc; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS), HĐXX xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Xuyên Mộc.

Về người tham gia tố tụng: Bị đơn ông B và bà A cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về hôn nhân: Bà A và ông B được Ủy ban nhân dân UBND thị trấn 2, huyện Xuyên Mộc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (BL 04), theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà A, ông B là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn: Bà A và ông B cùng xác nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do vợ chồng không thấu hiểu nhau, bất đồng chính kiến, thường xảy ra cãi vã dẫn đến vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc. Từ đầu năm 2021 đến nay vợ chồng đã ly thân. HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, vợ chồng tuy còn sống chung nhà nhưng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông B.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng cho con: Bà A và ông B cùng xác nhận có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên AB, sinh ngày 25/9/2017 đang sống cùng bà A được chăm lo việc học tập đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, đồng thời thống nhất giao cháu AB cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông B cấp dưỡng cho con là phù hợp khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con”. Do đó để đảm bảo cho việc học tập, sinh hoạt của cháu AB được ổn định, phù hợp với lợi ích của con chung nên cần giao cháu AB cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi phát sinh căn cứ pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Do bà A và ông B không yêu cầu nên HĐXX không xem xét quyết định.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và lời thừa nhận của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96 BLTTDS là chứng cứ của vụ án.

Về án phí: Đối với vụ án hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn.

Về phát biểu của Kiểm sát viên: Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên ghi nhận.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự và Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định BLTTDS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

-Các Điều 19, 51, 56, 57, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 85, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

-Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 173, 177, 179, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

-Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hà A về “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với ông Nguyễn Thiên B.

1.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hà A được ly hôn với ông Nguyễn Thiên B.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng cho con: Bà Nguyễn Thị Hà A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên AB, sinh ngày 25/9/2017 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi phát sinh các căn cứ pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ nuôi con. Ông B không phải cấp dưỡng cho con do bà A không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn bà A, ông B đều có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Ông B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà bà A và những người thân thích không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà A và ông B không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hà A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010724 ngày 23/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Bà A đã nộp đủ án phí.

- Ông Nguyễn Thiên B không phải chịu án phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày; VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16-6-2022). Các đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

4. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ