vanban.org

Bản án 60/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H N V TH
TỈNH HẬ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 8- 2022
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VI T NAM

TÒA N NH N N H N V TH

TỈNH HẬ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bé Ngọc

2. Ông Nguyễn Đông Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- i di n i n ki m sát nh n d n huy n Th y, t nh H u iang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 2 năm 2022 về tranh chấp về ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 187/2022/TB-TA ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1993; địa chỉ: Cạnh số, đường S, C, khu vực D, phường G, quận H, thành phố C (yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trường Trọng T, sinh năm 1991; địa chỉ: Số Q, ấp E, xã R, huyện T, tỉnh H (vắng mặt).

NỘI NG VỤ N:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D trình bày: Chị với bị đơn anh Trường Trọng T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh T không chung thủy. Đến năm 2015, thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng do anh T tiếp tục sống không chung thủy nên vợ chồng anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tại, anh T sinh sống cùng cha mẹ chồng tại ấp 10, xã Vị Thắng, huyện Thủy, tỉnh Hậu Giang. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trường Trọng T; Chị và anh T có người 01 con chung là cháu Trường Ngọc Phương L, sinh ngày 20/8/2011, do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trường Ngọc Phương L, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định nhưng bị đơn anh Trường Trọng T đều vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, về con chung giao cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn chưa yêu cầu nên chưa xem xét, về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét, về án phí hôn nhân gia đình và sơ thẩm buộc nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật. Về yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm là không có.

Các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất đều không có.

NHẬN Đ NH C A TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Áp dụng pháp luật về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bị đơn, yêu cầu được nuôi con chung. Thời điểm nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn có địa chỉ tại ấp A, xã B, huyện V, tỉnh H. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Đối với bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đối với nguyên đơn có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Vào ngày 12/12/2012, giữa nguyên đơn với bị đơn xác lập quan hệ hôn nhân (đăng ký kết hôn) nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và năm 2014 để giải quyết tranh chấp.

[3] Về hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D với bị đơn anh Trường Trọng T đăng ký kết hôn vào ngày 12/12/2012, tại Ủy ban nhân dân phường X. Thời điểm anh chị đăng ký kết hôn, thì anh chị đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không chung thủy, đến năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng hơn do anh T tiếp tục không chung thủy nên anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Kiều D nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Trường Trọng T. Theo biên bản xác minh ngày 14/4/2022, anh T và chị D có tổ chức đám cưới và có 01 người con chung, về nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến yêu cầu ly hôn giữa anh T và chị D thì chính quyền địa phương không rõ. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn; về phía bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, từ khi xảy ra mâu thuẫn cho đến nay là một thời gian dài, các bên không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ.

[4] Về nuôi dưỡng con chung: Giữa chị D với anh T có một người con chung là cháu Trường Ngọc Phương L, sinh ngày 20/8/2011, do chị D đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trường Ngọc Phương L, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Về phía bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 18/4/2022, cháu Trường Ngọc Phương L có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Theo biên bản xác minh ngày 14/4/2022, thì anh T với chị D có một người con. Xét thấy, chị D đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung từ khi ly thân cho đến nay. Do đó, để ổn định về tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của con chung và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trường Ngọc Phương L, nên tiếp tục giao cháu Trường Ngọc Phương L cho chị D nuôi dưỡng là có căn cứ.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Con chung được giao cho chị D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng nhưng chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên Tòa án chưa xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Tòa án không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ: Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 11, 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 57, 81, 82, 83 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kiều D với anh Trường Trọng T được ly hôn.

2. Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Trường Ngọc Phương L, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị Kiều D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Người trực tiếp nuôi con chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002694, ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị Nguyễn Thị Kiều D đã nộp xong, không phải nộp thêm.

6. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nh n:

Cỡ chữ