vanban.org

Bản án 60/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Mỹ D, sinh ngày 21/9/2013. Giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản, công nợ chung: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin LH anh D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THUỶ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2022.
.
V/v: Tranh chấp ly hôn
và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ pH toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết. Các hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Tình và ông Nguyễn Ngọc Tính. -Thư ký Toà án ghi biên bản pH toà: Bà Bùi Thị Huyền – Thư ký TAND huyện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia pH tòa: Bà Bùi Thị Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXX-ST, ngày 12 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn pH tòa số 17/2022/QĐST, ngày 29/7/2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H

sinh năm 1991. Trú tại: Thôn 3 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. 2. Bị đơn:

Anh Nguyễn Bá D

sinh năm 1988 Trú tại: Thôn 3 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Vắng mặt. ơ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/5/2022 và bản tự khai nguyên đơn chị Trịnh Thị H trình bày: Chị và anh D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (Quê của chị) vào ngày 11/12/2012. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2015, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau, tình cảm bị rạn nứt. Chị đã đưa con về nhà mẹ đẻ sống, để vợ chồng có thời gian suy nghĩ lại nhưng mâu thuẫn không thể giải quyết được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay xét thấy vợ chồng không thể quay về chung sống với nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Mỹ D, sinh ngày 21/9/2013. Hiện nay con đang ở cùng với chị, nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Trịnh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Bá D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Giấy triệu tập cho anh, nhưng anh vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh đối với người thân của anh Nguyễn Bá D là bà Bùi Thị Kh (Mẹ đẻ của anh D). Bà Kh cho biết: Chị H và anh D sau khi kết hôn ở cùng với gia đình bà. Đến năm 2015, vợ chồng đi làm ở Bắc Ninh, sau đó chị H về đi làm ở thị trấn Qu, huyện Y (Quê của chị H) còn anh D đi làm ở trong miền nam. Khi vợ chồng ở nhà thì không thấy xảy ra mâu thuẫn gì. Sau này khi đi làm xa nhau thì mới ảnh hưởng đến tình cảm của vợ chồng. Nay chị H làm đơn xin ly hôn gia đình đã khuyên ngăn, nhưng chị không nghe. Việc ly hôn là do vợ chồng tự quyết định. Anh D có nhắn tin về cho bà và đồng ý ly hôn. Bà Kh đã nhận giấy triệu tập, Thông báo về pH họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà Kh đã cam kết giao lại cho anh D.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký pH tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Nguyễn Bá D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, Nguyễn Mỹ D, sinh ngày 21/9/2013. Giao cháu D cho chị H tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi ngH cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Trịnh Thị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn anh Nguyễn Bá D trú tại: Thôn 3 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Chị Trịnh Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị theo quy định tại khoản 1 điều 227 và khoản 1 điều 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Văn D hiện không có mặt tại địa phương, không đến Tòa án làm việc. Kết quả xác minh tại Công an xã C, anh D có hộ khẩu thường trú tại địa phương, anh đang đi làm ăn nhưng không có địa chỉ cụ thể, thỉnh thoảng anh vẫn về quê, anh D đi không khai báo cho chính quyền địa phương biết. Căn cứ vào khoản 3 điều 40; điểm b khoản 2 điều 277 của BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ cuối cùng của bị đơn theo hộ khẩu thường trú là thôn 3 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa.

Anh D đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các thông báo về pH họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn pH tòa, Giấy triệu tập để tham gia pH tòa, nhưng vẫn vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Các thủ tục tố tụng đã được đã tiến hành đảm bảo theo quy định tại khoản 5 điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227- Bộ luật TTDS. Tòa án nhân dân huyện C tiến hành xét xử vắng mặt anh D. Bị đơn không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Định Hải, huyện Yên Định (Quê của chị H) nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 – Luật hôn nhân gia đình. Trong quá trình chung sống, giữa chị Hiện và anh D phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, hay cãi nhau, chị H đã về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu của chị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điều 51 và điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, Nguyễn Mỹ D, sinh ngày 21/9/2013. Hiện nay, con đang ở với chị H. Chị có nguyện vọng được nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con của chị H là chính đáng, cháu D có nguyện vọng ở với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con nên giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét

Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 96, khoản 4 điều 147, khoản 5 điều 177, khoản 1 điều 227, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228, điều 238 và điều 273 Bộ luật TTDS. Điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho chị Trịnh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá D.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Mỹ D, sinh ngày 21/9/2013. Giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu, nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010333, ngày 19/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ