vanban.org

Bản án 60/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo: Phạm Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HSST
Ngày : 15/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Công Trung;

2/ Bà Phạm Thị Nhung;

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 15 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí M xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST-HS-HPT ngày 09 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: PHẠM VĂN M; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1969 tại Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 58 Nguyễn Quang Bích, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 98/10/22/6A Tây Thạnh, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế xe ôm; Con ông Phạm Văn K, sinh năm 1924 (đã chết) và bà Lê Thị Th, sinh năm 1926 (đã chết); Vợ: Đỗ Thị N, sinh năm 1975; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 05/3/2020 bị Công an phường T, quận P xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã thi hành xong ngày 13/3/2020; Bị cáo tại ngoại;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 11/9/2020, Phạm Văn M, Nguyễn Doãn B, Trần Viết D và Nguyễn Văn Th ngồi uống nước tại quán cà phê số 296/13 đường Tây Thạnh, phường T, quận P. Tại đây, D rủ M, B, Th chơi đánh bài phỏm ăn thua bằng tiền thì cả nhóm đồng ý. Lúc này, D đưa tiền cho một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ lai lịch) nhờ đi mua một bộ bài tây 52 lá. Sau khi có bộ bài, D, M, B, Th ngồi quanh bàn nhựa màu xanh của quán cà phê số 296/13 đường Tây Thạnh, phường T, quận P chơi đánh bài ăn tiền. Cả nhóm thỏa thuận cách thức chơi đánh bài phỏm như sau:

- Số lượng người chơi tối đa 4 người. Sử dụng bộ bài tây gồm 52 lá được chia đều cho 4 người chơi. Người chia bài đầu tiên chia bài thành 04 tụ (phần) cho 04 người, tụ của người chia bài được 10 lá bài, 03 tụ còn lại được 09 lá bài, số lá bài còn lại được xết thành một chồng để ở giữa bàn.

- Người đánh đầu tiên đánh ra một lá bài xuống bàn (úp xuống), người tiếp theo sẽ “ăn” lá bài đó nếu tạo thành “Phỏm” (Phỏm là từ 03 đến 04 lá bài cùng chất hoặc từ 03 lá bài trở lên có số nước liên tiếp và cùng chất với nhau) với những lá bài trên tay mình. Nếu người tiếp theo không “ăn” được thì phải bốc một lá bài của phần bài đặt giữa bàn. Cứ đánh tiếp tục như vậy cho đến khi người chơi bốc hết số lá bài trong chồng bài để giữa bàn thì kết thúc một ván. Khi ván bài kết thúc, người nào có phỏm sẽ hạ hết phỏm xuống bàn và tính điểm thắng thua bằng cách cộng số điểm của các lá bài còn lại trên tay (lá bài A tính 01 điểm; lá bài J tính 11 điểm, lá bài Q tính 12 điểm, lá bài K tính 13 điểm, các lá bài còn lại tính điểm tương ứng với số trên lá bài). Nếu điểm cộng lại ai có số điểm ít nhất sẽ thắng rồi đến thua hai, thua ba và thua tư. Nếu ai không có phỏm nào thì bị “cháy”. Ván bài cũng có thể kết thúc giữa chừng nếu có người “Ù thường” hoặc “Ù tròn” (Ù thường là người có 03 phỏm và dư 01 lá; Ù tròn là người có 03 phỏm và không dư lá nào).

- Quy định về tỷ lệ ăn thua 10.000 đồng – 20.000 đồng – 30.000 đồng có nghĩa là người thắng nhất được thắng hết tối thiểu là 60.000 đồng; người thua nhì thua 10.000 đồng; người thua ba thua 20.000 đồng; người thua tư thua 30.000 đồng; người bị “cháy” thua 40.000 đồng. Trường hợp ván bài có người thắng “Ù thường” thì những người còn lại thua 30.000 đồng, nếu có người thắng “Ù tròn” thì những người còn lại thua 50.000 đồng.

Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày khi đang chơi thì bị Công an phường T, quận P đi kiểm tra phát hiện nên đưa M, D, B, Th cùng vật chứng về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra:

- Phạm Văn M khai nhận: khoảng 13 giờ ngày 11/9/2020, tại quán cà phê số 296/13 đường Tây Thạnh, phường T, quận P D rủ M, B, Th chơi bài phỏm ăn thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. D nhờ người đi mua một bộ bài tây 52 lá, rồi dùng bàn ghế có sẵn ở quán cà phê để chơi bài. Khi đánh bài không phải trả tiền xâu và chủ quán cà phê cũng không có mặt tại quán. Khi đi M mang theo số tiền 300.000 đồng sử dụng để chơi đánh bài. Quá trình chơi M bị thua 30.000 đồng, còn lại 270.000 đồng. Khi bị bắt, tạm giữ của M số tiền 270.000 đồng;

- Trần Viết D khai nhận: khoảng 13 giờ ngày 11/9/2020 tại quán cà phê số 296/13 đường Tây Thạnh, phường T, quận P D rủ M, B, Th chơi bài phỏm ăn thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. Sau đó, D nhờ một người xe ôm đi mua một bộ bài tây 52 lá, rồi dùng bàn ghế có sẵn ở quán cà phê để chơi bài. Cả nhóm không phải trả tiền xâu cho quán cà phê. Khi đi D mang theo số tiền 340.000 đồng sử dụng để chơi đánh bài. Quá trình chơi, D thắng được số tiền 200.000 đồng. Khi bị bắt, tạm giữ của D số tiền 540.000 đồng;

- Nguyễn Doãn B khai nhận: Khoảng 12 giờ 55 phút, D đi bộ từ nhà ra quán cà phê số 296/13 đường Tây Thạnh, phường T, quận P để uống nước. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, D rủ M, B, Th chơi bài phỏm ăn thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. Sau đó, D nhờ một người xe ôm đi mua một bộ bài tây 52 lá, rồi dùng bàn ghế có sẵn ở quán cà phê để chơi bài. Cả nhóm không phải trả tiền xâu cho quán cà phê. Khi đi B mang theo số tiền 200.000 đồng sử dụng để chơi đánh bạc. Quá trình chơi B bị thua số tiền 170.000 đồng, còn lại 30.000 đồng. Khi bị bắt, tạm giữ của B số tiền 30.000 đồng;

- Nguyễn Văn Th khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 11/9/2020 tại quán cà phê số 296/13 đường Tây Thạnh, phường T, quận P D rủ M, B, Th chơi bài phỏm ăn thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. Sau đó, D nhờ một người xe ôm đi mua một bộ bài tây 52 lá, rồi dùng bàn ghế có sẵn ở quán cà phê để chơi bài. Cả nhóm không phải trả tiền xâu cho quán cà phê. Khi đi Th mang theo số tiền 8.000.000 đồng, sử dụng 1.600.000 đồng để chơi đánh bài, còn 6.400.000 đồng Th dùng trả tiền sửa xe và tiêu xài cá nhân. Quá trình chơi thì Th không ăn không thua. Khi bị bắt, tạm giữ của Th số tiền 8.000.000 đồng;

Căn cứ Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 270.000 (hai trăm bảy mươi ngàn) đồng là tiền thu giữ của M dùng để đánh bạc + 540.000 (năm trăm bốn mươi ngàn) đồng là tiền thu giữ của D dùng đánh bạc + 30.000 (ba mươi ngàn) đồng là tiền thu giữ của B dùng để đánh bạc + 1.600.000 (một triệu sáu trăm ngàn) đồng là tiền thu giữ của Th dùng để đánh bạc = 2.440.000 (hai triệu bốn trăm bốn mươi ngàn) đồng.

* Vật chứng thu giữ:

- Một (01) bộ bài tây 52 lá đã sử dụng;

- Một (01) bàn nhựa màu xanh;

- Bốn (04) ghế xếp bằng kim loại, dây bằng nhựa;

+ Tạm giữ của Phạm Văn M:

- Số tiền 270.000 (hai trăm bảy mươi ngàn) đồng thu trên chiếu bạc, đây là số tiền M sử dụng để đánh bạc;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Oppo A1601 màu vàng, số Imei: 862651039346132, là tài sản cá nhân của M;

+ Tạm giữ của Trần Viết D:

- Số tiền 540.000 (năm trăm bốn mươi ngàn) đồng thu trên chiếu bạc, đây là số tiền D sử dụng để đánh bạc;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng có số Imei 1: 867609030913974, số Imei 2: 867609030913966, là tài sản cá nhân của D. Xét đây là tài sản cá nhân của D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho D;

+ Tạm giữ của Nguyễn Doãn B:

- Số tiền 30.000 (ba mươi ngàn) đồng thu trên chiếu bạc, đây là số tiền B sử dụng để đánh bạc;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia 150, màu đen có số Imei1: 356956092335861, Imei2: 356956095335868. Xét đây là tài sản cá nhân của B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho B;

+ Tạm giữ của Nguyễn Văn Th:

- Số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng, trong đó có 1.600.000 (một triệu sáu trăm ngàn) đồng Th sử dụng để đánh bạc (thu trên chiếu bạc), còn 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm ngàn) đồng để trong bóp Th dùng để trả tiền sửa xe và tiêu xài cá nhân. Đối với số tiền 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm ngàn) đồng là tài sản cá nhân của Th nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho Th;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số Imei: 869183037345132. Xét đây là tài sản cá nhân của Th nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho Th;

Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 27/PNK ngày 03/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 16 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Văn M về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn M mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù;

Bị cáo Phạm Văn M nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn M đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng vào ngày 05/3/2020 lại tiếp tục có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi đánh phỏm với các đối tượng Nguyễn Doãn B, Trần Viết D và Nguyễn Văn Th với tổng số tiền thu tại chiếu bạc và trong người các người chơi sử dụng vào việc đánh bạc là 2.440.000 (hai triệu bốn trăm bốn mươi ngàn) đồng, hành vi của bị cáo Phạm Văn M đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật.

Đối với Trần Viết D, Nguyễn Doãn B và Nguyễn Văn Th có hành vi đánh bạc, tuy nhiên, số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, đồng thời D, B, Th chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc “Tội tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc” nên hành vi của các đối tượng chưa cấu Th tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cơ quan Công an quận Tân Phú chuyển hồ sơ của Trần Viết D, Nguyễn Doãn B và Nguyễn Văn Th đến Công an phường T, quận P để ra Quyết định xử phạt hành chính đối với D, B, Th về hành vi “Đánh bạc”.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và không có nghề nghiệp ổn định nên miễn cho bị cáo;

Về xử lý vật chứng:

Đối với một (01) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, một (01) bàn nhựa màu xanh, bốn (04) ghế xếp bằng kim loại, dây bằng nhựa. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tang vật dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 2.440.000 (hai triệu bốn trăm bốn mươi ngàn) đồng thu giữ của các bị cáo trên chiếu bạc. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo M và các đối tượng D, B, Th sử dụng số tiền trên vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Oppo A1601 màu vàng có số Imei: 862651039346132. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của M nên trả lại cho ông Phạm Văn M;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng có số Imei 1: 867609030913974, số Imei 2: 867609030913966. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của ông Trần Viết D, không dùng vào việc phạm tội, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Trần Viết D nên Hội đồng xét xử không xem xét;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Nokia 150, màu đen có số Imei1: 356956092335861, Imei2: 356956095335868. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của ông Nguyễn Doãn B, không dùng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho Nguyễn Doãn B nên Hội đồng xét xử không xem xét;

Đối với số tiền 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm ngàn) đồng và một (01) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imei: 869183037345132 thu giữ của ông Nguyễn Văn Th. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của Th, không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho Th nên Hội đồng xét xử không xem xét;

Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 27/PNK ngày 03/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Đánh bạc”

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ vào Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo:

Phạm Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt bị cáo để chấp hành án;

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo;

Tịch thu tiêu hủy một (01) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, một (01) bàn nhựa màu xanh, bốn (04) ghế xếp bằng kim loại, dây bằng nhựa;

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.440.000 (hai triệu bốn trăm bốn mươi ngàn) đồng;

Trả cho bị cáo Phạm Văn M một (01) điện thoại di động hiệu Oppo A1601 màu vàng có số Imei: 862651039346132;

Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 27/PNK ngày 03/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ