- Tranh chấp gì? án hình sự — "Q-T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày 09-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Khắc Tân
Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hưng, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Khắc Q, Nguyễn Văn P, Nguyễn Khắc Ph, Nguyễn Văn H), sinh năm 195X tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 8/150 T, tổ 9 phường Trần Thành N, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc M và bà Nguyễn Thị V (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị C (đã ly hôn năm 1998), có 02 con; tiền án: Án số 21/HSST ngày 17/02/1990 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; án số 1047/HSPT ngày 27/7/1996 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 18 năm tù về các tội: Cướp tài sản của công dân, Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, Tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép”; án số 41/2012/HS-ST ngày 19/9/2012 Toà án nhân dân quận Kiến An xử phạt 09 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích: Án số 38/HSST ngày 22/9/1982 Tòa án nhân dân thị xã Kiến An xử phạt 24 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, án số 42/HSST ngày 18/10/1985 Tòa án nhân dân huyện Kiến An xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và 01 tiền sự đã hết thời hạn: Ngày 01/8/1981 Công an Kiến An bắt về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị bắt tạm giữ ngày 27/10/2020, tạm giam ngày 02/11/2020; có mặt.
2. Mai Xuân T, sinh năm 198X tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 117 T, tổ 8 phường Trần Thành N, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn M và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn 2015), có 01 con; tiền sự: Tại Quyết định 24/QĐ-XPHC ngày 22/9/2020 Công an quận Kiến An xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản; nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích: Án số 85/2012/HSST ngày 26/9/2012 Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ ngày 15/3/2017 đến ngày 15/9/2017 tự nguyện cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2. Bị bắt tạm giữ ngày 27/10/2020, tạm giam ngày 02/11/2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 15 phút ngày 27/10/2020, Tổ công tác Công an phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát hiện Mai Xuân T điều khiển xe máy BKS 24K3-0668, ngồi sau là Nguyễn Văn Q tại khu vực đầu ngõ 266 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên phải của Mai Văn T có 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; thu giữ tại ví ở túi quần phía sau bên phải của Nguyễn Văn Q 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 xe máy BKS 24K3-0668. Tổ công tác đã đưa Mai Xuân T, Nguyễn Văn Q cùng vật chứng về trụ sở công an phường Niệm Nghĩa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám số 680/KLGĐ ngày 30/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng của Mai Xuân T có trọng lượng 0,17gam là loại Heroine; chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng của Nguyễn Văn Q có trọng lượng 0,03 gam, là loại Heroine.
Mai Xuân T và Nguyễn Văn Q đều khai như sau: Khoảng 23h30’ phút ngày 26/10/2020, T đi bộ từ nhà T sang nhà Q rủ Q đi mua ma túy về sử dụng. Q đồng ý và thống nhất mỗi người góp 100.000 đồng. Q đưa cho Toàn 100.000 đồng và xe máy BKS 24K9-0668 của Q cho T đi mua ma túy. Toàn điều khiển xe máy chở Q ngồi phía sau đi vào ngõ cạnh chùa Vẻn trên đường Tô Hiệu. Sau đó, Q đứng đợi ở giữa ngõ trông xe để T vào mua ma túy. T đi bộ vào thì gặp một người nam giới không quen biết đang đứng trong ngõ và mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, T đi ra chỗ Q đang đợi, Q nhặt một mảnh giấy màu trắng ở dưới đất rồi đưa cho T để T chia số ma túy vừa mua. Sau khi chia xong, T cất số ma túy vào túi áo bên phải, Q cất số ma túy vừa nhận vào ví và để ở túi quần bên phải phía sau. T điều khiển xe chở Q đi đến khu vực đầu ngõ 266 Trần Nguyên Hãn để về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng số ma túy vừa mua.
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên lời khai như nội dung trên; ngoài ra các bị cáo thừa nhận mục đích cùng chung tiền mua ma túy về để sử dụng và khi thống nhất chung tiền mua ma túy các bị cáo cũng thống nhất số ma túy sẽ chia làm hai phần bằng nhau và ma túy của bị cáo nào thì bị cáo đấy về nhà sử dụng; các bị cáo không sử dụng ma túy tại nhà của nhau. Việc khi Q đưa mảnh giấy trắng để T chia số ma túy ra làm hai phần bằng nhau như đã thống nhất trước khi cùng nhau đi mua nhưng do trời tối T, Q không để ý lên đã có sự khác nhau về khối lượng của 02 gói ma túy vừa chia bị cơ quan công an thu giữ. Ngoài mục đích mua ma túy về sử dụng thì không còn mục đích nào khác.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSLC ngày 06 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Mai Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hồi 00 giờ 15 phút ngày 27/10/2020, tại khu vực đầu ngõ 266 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Mai Xuân T và Nguyễn Văn Q có hành vi cất giữ trái phép tổng khối lượng 0,2 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mai Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Xuân T mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do các bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định (thu giữ của các bị cáo); 01 ví giả da (thu giữ của Q).
Đối với số tiền 280.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Q, tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo.
Đối với người nam giới bán ma túy cho T, do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra. Do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 24K3-0668 thu giữ khi bắt giữ T và Q, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ để xác minh, xử lý sau. Do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Các bị cáo tự bào chữa: Tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa và công nhận lời luận tội đúng hành vi phạm tội, không bị oan.
Lời nói sau cùng của của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 00 giờ 15 phút ngày 27/10/2020, Mai Xuân T và Nguyễn Văn Q có hành vi cất giữ trái phép 0,2 gam Heroin tại khu vực đầu ngõ 266 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Q và Mai Xuân T đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
Các bị cáo là người hiểu, biết tác hại của ma túy, biết pháp luật xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi liên quan đến ma túy và các bị cáo đều đã bị xét xử về tội liên quan đến ma túy nhưng do nghiện ma túy đã cùng chung mục đích, ý chí đi mua ma túy về sử dụng. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
Về vai trò của các bị cáo:
Toàn là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội: Trực tiếp mua ma túy và chia số ma túy mua làm 02 phần bằng nhau để đưa Q 01 gói theo việc thống nhất từ trước;
Quân thực hiện với vai trò giúp sức, chuẩn bị phương tiện để cùng Toàn thực hiện hành vi phạm tội; vai trò của T cao hơn Q.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.
Về nhân thân các bị cáo:
Nhân thân bị cáo Q đã có 05 tiền án: Án số 38/HSST ngày 22/9/1982 Tòa án nhân dân thị xã Kiến An xử phạt 24 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và án số 42/HSST ngày 18/10/1985 Tòa án nhân dân huyện Kiến An xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; đối với 02 bản án này đã xóa do không xác định được phần dân sự. Tại án số 21/HSST ngày 17/02/1990 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; án số 1047/HSPT ngày 27/7/1996 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 18 năm tù về các tội: Cướp tài sản của công dân, Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, Tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép”; án số 41/2012/HS-ST ngày 19/9/2012 Toà án nhân dân quận Kiến An xử phạt 09 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/3/2019; đối với 03 tiền án này đến nay chưa được xóa nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có 01 tiền sự: Ngày 01/8/1981 Công an Kiến An bắt về hành vi Trộm cắp tài sản đến nay đã hết thời hạn.
Nhân thân bị cáo Toàn đã có 01 tiền án: Án số 85/2012/HSST ngày 26/9/2012 Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến nay đã được xóa án tích và 01 tiền sự: Tại Quyết định 24/QĐ-XPHC ngày 22/9/2020 Công an quận Kiến An xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản; ngoài ra bị cáo 01 lần cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 từ ngày 15/3/2017 đến ngày 15/9/2017. Nên lần phạm tội này bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên cho thấy các bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân của các bị cáo; buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Về xử lý vật chứng:
Lượng Heroin cơ quan Công an thu giữ của các bị cáo có tổng khối lượng 0,2 gam, sau khi lấy đi giám định lượng còn lại 0,13 gam cùng toàn bộ vỏ bao được niêm phong lại trong một bì giấy theo dấu niêm phong số 680/2020/PC09. Xét đây là vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc ví giả da màu nâu bong tróc thu giữ của Nguyễn Văn Quân, bị cáo dùng để đựng ma túy và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 280.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Q, tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội; bị cáo khai đây là tiền do làm tích góp mà có; nên trả lại bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí.
Đối với người nam giới bán ma túy cho T, do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 24K3-0668 thu giữ khi bắt giữ T và Q, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ để xác minh, xử lý sau; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.
Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Q 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 27 tháng 10 năm 2020.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mai Xuân T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 27 tháng 10 năm 2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao được niêm phong lại trong 01 phong bì giấy theo dấu niêm phong số: 680/2020/PC09 và 01 chiếc ví giả da màu nâu bong tróc thu giữ của Nguyễn Văn Q.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 280.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Q để đảm bảo thi hành án phần án phí.
(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 08 tháng 4 năm 2021 và biên lai thu tiền số 0004747 ngày 08 tháng 4 năm 2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Q, bị cáo T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố hải Phòng; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an Quận Lê Chân + PV 06 + PC10; - Trại tạm giam Công an Hải Phòng; - Các bị cáo + THAHS; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp Hải Phòng; - UBND phường T, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |