- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Hứa - ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĐ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày: 30 – 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĐ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Anh Thơ.
Ông Hoàng Đăng Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đoàn Văn H. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1996 tại huyện ĐT, tỉnh HT; Nơi cư trú: Thôn Sâm Văn Hội, xã Trường Sơn, huyện ĐT, tỉnh HT; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Cường, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Mai, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 27/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 02/9/2019; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2021 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đoàn Văn L. Sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn Sâm Văn Hội, xã Trường Sơn, huyện ĐT, tỉnh HT. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị Đ. Sinh năm 1967. Nơi cư trú: Xóm Phú Xuân, xã Trung Phúc Cường, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 03/8/2021, Đoàn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 38D1-219.93 của anh Đoàn Văn L đi từ nhà đến thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tại khu vực bến xe chợ Vinh, Hứa gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 04 gói ma túy được gói trong bìa giấy màu trắng xanh, với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn). Sau khi mua xong, Hứa bỏ ma túy vào túi quần về điều khiển xe đi đến huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi Hứa đến tại khu vực nhà bà Trần Thị Đ thuộc xóm Phú Xuân, xã Trung Phúc Cường, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện NĐ bắt quả tang thu giữ tang vật là ma túy và vật chứng liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 1179/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 06/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “04 (bốn) mẫu chất rắn tinh thể màu trắng (ký hiệu A’1, A’2, A’3, A’4) thu giữ của Đoàn Văn H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số chất rắn tinh thể màu trắng thu giữ của Đoàn Văn H có khối lượng là 0,84 gam (không phẩy tám mươi tư)”.
Cáo trạng số: 66/CT-VKSNĐ ngày 17/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An truy tố Đoàn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt mức án từ 18 đến 21 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư được niêm phong đúng quy định. Bên ngoài ghi “vật chứng còn lại của Đoàn Văn H”. Bên trong có túi ni lon, miếng bìa cát tông màu xanh trắng, phong bì niêm phong ban đầu.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết sai phạm của mình. Mong Hội đồng xét xử xử mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Tuy nhiên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 35 phút ngày 03/8/2021, tại khu vực xóm Phú Xuân, xã Trung Phúc Cường, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An, Đoàn Văn H đã có hành vi tàng trữ 0,84 gam ma túy (methamphetamine) với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện NĐ phát hiện và bắt quả tang. Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống và làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm. Bị cáo là người đã bị Tòa án xét xử về tội ma túy chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” nên cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) bì thư được niêm phong đúng quy định. Bên ngoài ghi “vật chứng còn lại của Đoàn Văn H”. Bên trong có túi ni lon, miếng bìa cát tông màu xanh trắng, phong bì niêm phong ban đầu. Đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy. Đối với ma túy thu giữ đã lấy hết để phục vụ công tác giám định.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 38D1-219.93 chủ sở hữu là anh Đoàn Văn L không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả cho chủ sở hữu là đúng quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Hứa chưa xác định được lý lịch cụ thể. Cơ quan điều tra sẽ điều tra làm rõ và xử lý sau là phù hợp, đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Văn H: 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) bì thư được niêm phong đúng quy định. Bên ngoài ghi “vật chứng còn lại của Đoàn Văn H”. Bên trong có túi ni lon, miếng bìa cát tông màu xanh trắng, phong bì niêm phong ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NĐ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Văn H có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện NĐ; - Chi cục THADS huyện NĐ; - Công an huyện NĐ; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vương Hoàng Hào |