- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mỹ C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày: 19-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn An.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 (Sau đây viết tắt là 08/9/2021), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2021/QĐXXST-HS ngày 15/9/2021, đối với bị cáo:
Trần Mỹ C, sinh năm 1994, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 2 Đ, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Mỹ G và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/8/2021 và chuyển tạm giam từ ngày 04/8/2021 đến nay; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu C; vắng mặt.
+ Người chứng kiến: Ông Trần Văn N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13h10’ ngày 01/8/2021, tại thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam, tổ công tác của Công an huyện L, tỉnh Hà Nam, phối hợp với Công an xã P đang làm nhiệm vụ thì phát hiện đối tượng Trần Mỹ C đang đi bộ, có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính thì phát hiện, thu giữ trên tay phải của C đang cầm 01 (Một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 05 (Năm) gói giấy (gồm: 01 gói màu trắng và 04 gói giấy, loại giấy lịch), mở ra bên trong 05 gói gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, dạng cục. C khai nhận đó là ma tuý (loại Heroine) vừa mua về để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 05 gói giấy trong phong bì kí hiệu “QT”.
* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Mỹ C, cơ quan Công an không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
* Tại bản kết luận giám định số 172/PC09-MT ngày 03/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,157 (Không phẩy một trăm năm mươi bẩy) gam, loại: Heroine”.
* Về nguồn gốc Heroine thu giữ, C khai: Khoảng 12h ngày 01/8/2021, C đi bộ từ nhà đến khu vực đê Đại Hà thuộc thôn L, xã P, huyện L, mua được ma tuý đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long của một người đàn ông không quen biết với giá là 200.000 đồng, sau đó đi tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.
* Quá trình điều tra Trần Mỹ C đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS-LN ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã truy tố Trần Mỹ C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Mỹ C như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Mỹ C từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.
- Bị cáo Trần Mỹ C đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bản thân vào ngày 01/8/2021 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định việc mua và cất giấu 05 gói ma tuý trên là để sử dụng cá nhân, không có mục đích nào khác, bản thân bị cáo nghiện ma túy đã lâu, nhiều lần mua ma túy để sử dụng nhưng không biết người bán và lượng ma túy đã mua. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai của Trần Mỹ C tại phiên toà về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về ma tuý và lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 13h10’ ngày 01/8/2021, tại địa phận thuộc thôn L, xã P, huyện L, Trần Mỹ C đang có hành vi cất giấu trái phép 0,157 (Không phẩy một trăm năm mươi bẩy) gam chất ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị lực lượng Công an huyện Lý Nhân bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Mỹ C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo quy định của pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội cũng như tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là thanh niên có tuổi đời còn trẻ nhưng lại không chịu học tập, rèn luyện mà sớm sa ngã vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay trên địa bàn.
- Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
Xét thấy, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, Trần Mỹ C khai đã mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đê Đại Hà, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam. HĐXX xét thấy, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Mỹ C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Mỹ C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2021.
[2] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 172/PC09-MT của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”.
(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 07/9/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).
[3] Căn cứ các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Mỹ C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đinh Văn An |