vanban.org

Bản án 60/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 19/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ, Bùi Tuấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/06/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Đ cùng đồng bọn "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ, Bùi Tuấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC S
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HS -ST
Ngày: 19-10-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC S - TỈNH HOÀ BÌN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dần

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Trung Thực và bà Trịnh Thị Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc S.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 10 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc S xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn Đ, sinh ngày 23/12/2001 tại xã V - Huyện L - Tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm Đ - Xã V - Huyện L - Tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1975 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/06/2021 đến nay; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Tuấn S, sinh ngày 30/04/2003 tại xã Â - Huyện L - Tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm B - Xã Â - Huyện L - Tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1982 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/06/2021 đến nay; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trương Thị H, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Thôn Lệ Cẩm 1, xã Thành Mỹ, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Dương Toàn T, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Phố L, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1956. Nơi cư trú: Phố L xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do đều là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 24/6/2021 Bùi Văn Đ đã gọi điện thoại qua ứng dụng Messeger của mạng xã hội Facebook rủ Bùi Tuấn S đi mua ma túy về cùng sử dụng. S đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wawe@ không gắn biển kiểm soát đến đón Đ đi mua ma túy. Tại nhà Đ, Đ đã đưa cho S 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để trả tiền mua ma túy, sau đó Bùi Văn Đ điều khiển xe mô tô chở Bùi Tuấn S đi đến khu vực bến xe thị trấn Vụ Bản để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ và S đã hỏi và mua được 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất ma túy của của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi địa chỉ với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Mua được ma túy Bùi Tuấn S cất giấu vào bên trong túi quần phía trước bên trái của mình; Bùi Văn Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Bùi Tuấn S đi về nhà.

Đến 10 giờ 20 phút, cùng ngày khi Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S đi đến khu vực thuộc phố Lâm Hóa 1, xã Vũ Bình, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình, thì gặp tổ công tác của Công an huyện Lạc S và Công an xã Vũ Bình đang làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang Bùi Tuấn S cất giấu trong túi quần phía trước bên trái của S 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Đ và S đều khai là chất ma túy). Tổ công tác công an huyện Lạc S đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng, đưa Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S về trụ sở Công an huyện Lạc S để làm rõ.

Tại bản kết luận giám định số 201/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 01/07/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy bạc trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S vào ngày 24/06/2021” gửi giám định có khối lượng 0,34g (không phẩy ba mươi tư gam) là ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra, truy tố Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ được.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S vào ngày 24/06/2021 tại thị trấn Vụ bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình do không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xác minh và xử lý.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại WAVE @, màu xanh; số khung RLHJA3924MY061060; số máy JA39E2178361, xe không gắn biển số, không có gương chiếu hậu. Xe cũ đã qua sử dụng (kèm theo chìa khóa xe). Xác định xe mô tô trên có biển số đăng ký là 36E -418.18 ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36001525 do Công an huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/04/2021, biển số đăng ký là 36E -418.18; 01(một) điện thoại di động IPHONE, số loại 6 PLUS màu vàng, bị vỡ màn hình cảm ứng. Xác định những vật chứng trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Trương Thị H, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Thôn Lệ Cẩm 1, xã Thành Mỹ, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa không liên quan đến vụ án nên quá trình truy tố Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu.

+ Đối với: 01 mẫu chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,34g (không phẩy ba mươi tư gam) ma túy, loại Heroine trong quá trình giám định cơ quan giám định đã hoàn trả 0,23g mẫu ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định được niêm phong theo quy định và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại F9 màu xanh, bị vỡ màn hình cảm ứng của Bùi Văn Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc S bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 29 tháng 09 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S đã truy tố Bùi Văn Đ, Bùi Tuấn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Lạc S, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; Đề nghị HĐXX:

+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù; xử phạt bị cáo Bùi Tuấn S từ 15 đến 18 tháng tù.

+ Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại F9 màu xanh, bị vỡ màn hình cảm ứng thuộc quyền sở hữu của Bùi Văn Đ để phát mại sung vào ngân sách nhà nước; đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với khối lượng chất ma túy, loại Heroine cùng cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và tuyên các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hay yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Lạc S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24/06/2021; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong vật chứng; bản kết luận giám định số 201/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 01/07/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình; lời khai của những người tham gia tố tụng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 10 giờ 20 phút, ngày 24/6/2021 tại phố Lâm Hóa 1, Vũ Bình, Lạc S, Hòa Bình, Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,34g (không phẩy ba mươi tư gam) ma túy, loại Heroine với mục đích cùng sử dụng. Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Bùi Văn Đ, Bùi Tuấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm hại đến chính sách về quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì là các đối tượng nghiện ma túy nên các bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do vậy, các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện

Xét tính chất của vụ án, đây là vụ án đồng phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có tính chất giản đơn. Tuy nhiên, để làm cơ sở cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hình phạt đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử đã phân tích và xét thấy: Bị cáo Bùi Văn Đ là người trực tiếp dụ dỗi, lôi kéo bị cáo Bùi Tuấn S tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính; bị cáo Bùi Tuấn S tiếp nhận ý trí từ bị cáo Bùi Văn Đ là người giúp sức tạo điều kiện về mặt vật chất và trực tiếp tàng trữ chất ma túy sau khi mua được nên giữ vai trò đồng phạm tích cực, chịu trách nhiệm thứ yếu sau bị cáo Bùi Văn Đ.

Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội cho thấy: Do các bị cáo là các đối tượng nghiện ma túy, việc tàng trữ là để phục vụ cho việc thỏa mãn cơn nghiện là nguyên nhân, điều kiện chính dẫn tới hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xét nhân thân của các bị cáo: Trước khi phạm tội các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường) sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại các điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự trong quá trình lượng hình. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo Đ, S vào ngày 24/06/2021 tại khu vực thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình. Xét thấy chưa có cơ sở xem xét, xử lý do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, các bị cáo còn có thể bị bổ sung. Song xem xét cụ thể trường hợp của các bị cáo, xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có tính khả thi. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại WAVE @, màu xanh xe không gắn biển số, không có gương chiếu hậu. Xe cũ đã qua sử dụng (kèm theo chìa khóa xe) ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36001525 do Công an huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/04/2021, biển số đăng ký là 36E -418.18; 01(một) điện thoại di động IPHONE, số loại 6 PLUS màu vàng, bị vỡ màn hình cảm ứng. Xác định những vật chứng trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Trương Thị H, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Thôn Lệ Cẩm 1, xã Thành Mỹ, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa không liên quan đến vụ án nên quá trình truy tố Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu.là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại F9 màu xanh, bị vỡ màn hình cảm ứng thuộc quyền sở hữu của Bùi Văn Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội, xét cần thiết phải được tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước ;

- Đối với ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ, Bùi Tuấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

+ Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/06/2021.

+ Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn S 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/06/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, còn nguyên vẹn mẫu giám định ma túy của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình số thông báo kết luạn giám định số 201 ngày 30/06/2021 g tên đối tượng Bùi Văn Đ và Bùi Tuấn S. Mép dán có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Bên trong có chứa 0,23 gam ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói lại sau khi giám định.

+ tuyên tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại F9 màu xanh, bị vỡ màn hình cảm ứng thuộc quyền sở hữu của Bùi Văn Đ.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa công an huyện Lạc S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc S ngày 01/10/2021).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Bùi Văn Đ, Bùi Tuấn S mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ