- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn Anh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CẨM!GIÀNG TỈNH!HẢI!DƯƠNG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày: 04 - 11 - 2021 ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Đoàn Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Hồng Hà và bà Khương Thị Lơ.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2021/TLST-HS ngày 15- 10 -2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2021/QĐXXST-HS ngày 21 - 10 -2021, đối với bị cáo:
Nguyễn!Tuấn!A, sinh năm 1999 tại xã ĐS, huyện CG, tỉnh HD; nơi ở: thôn 3, xã ĐS, huyện CG, tỉnh HD; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và con bà Vũ Thị Th; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 13-4-2016, Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (hình thức phạt tiền); đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14-9-2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người làm chứng:!!
-. Anh Hoàng Bá N, sinh năm 1974; trú tại: thôn PL, xã CV, huyện CG, tỉnh HD!(vắng mặt);
!
-. Ông Trần Nguyễn T, sinh năm 1964; trú tại: thôn 2, xã ĐS, huyện CG, tỉnh HD (vắng mặt);!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Tuấn A sử dụng ma túy từ năm 2016; do có nhu cầu sử dụng nên sáng ngày 12-9-2021, Tuấn A điều khiển xe môtô nhãn hiệu SUZUKI viva 110, màu xanh, BKS 34L6-1869 (xe mượn của ông Trần Nguyễn T) đến đội 8, thôn PL, xã CV, huyện CG gặp mua của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 02 túi ma túy giá 300.000đ; được gói trong giấy ăn màu trắng (trong đó 01 túi nilon có miệng túi viền màu đỏ, kích thước 1,5x2cm; 01 túi nilon kích thước 1,8x2cm). Tuấn A cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô đi về. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi Tuấn A đang đi trên đường thôn PL, xã CV, huyện CG thì bị Công an xã CV, huyện CG kiểm tra có sự chứng kiến của anh Hoàng Bá N phát hiện thu giữ: 01 gói giấy ăn màu trắng, bên trong có 02 túi nilon màu trắng( trong đó 01 túi nilon có miệng túi viền màu đỏ, kích thước 1,5x2cm; 01 túi nilon kích thước 1,8x2cm); trong 02 túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; Tuấn A khai là ma túy đá để sử dụng cho bản thân. Công an xã CV còn quản lý 01 xe môtô SUZUKI viva 110, màu xanh, BKS 34L6-1869.
Kết luận giám định số 527/KLGĐ-PC09 ngày 15-9-2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể mầu trắng niêm phong trong phong bì thu của Nguyễn Tuấn A gửi đến giám định, khối lượng 0,440g là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu vật sau giám định gồm: 0,385g Methamphetamine; 01 gói giấy ăn mầu trắng; 02 vỏ túi nilon mầu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong.
Ngày 17-10-2021, ông Trần Nguyễn T đã nhận lại chiếc xe môtô SUZUKI viva 110, màu xanh, BKS 34L6-1869.
Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 14-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh tụng tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 14-9-2021; không áp dụng hình phạt bổ sung.
2
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu hủy 0,385g Methamphetamine; 01 gói giấy ăn mầu trắng; 02 vỏ túi nilon mầu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25-11-2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại!phiên!tòa: bị cáo thừa nhận hành vi đang cất giữ 02 túi nilon ma túy đá trong lòng bàn tay trái và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định. Bị cáo còn khai khi bị bắt, ngoài thu giữ xe mô tô và ma túy, bị cáo còn bị thu 01điện thoại Sam sung A21 màu xanh, có sim số 0396366601 và 01 ví da trong có 750.000đ, bị cáo không có tài liệu chứng minh về việc này.
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người chứng kiến tại Cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản vụ việc; Kết luận giám định số 527/KLGĐ-PC09 ngày 15-9-2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 12-9-2021, tại đường trong thôn PL, xã CV, huyện CG, tỉnh HD, Nguyễn Tuấn A có hành vi cất giấu trái phép 0,440g Methamphetamine trong lòng bàn tay trái với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ vật chứng. Bị cáo Tuấn A là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là ma túy đá Nhà nước cấm tàng trữ nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo vẫn cố ý cất giấu để sử
3
dụng. Xét về hành vi, trọng lượng và chất ma túy mà bị cáo đang cất giữ đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Cẩm Giàng. Chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến con người cũng như sự an toàn của xã hội; là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]!Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy từ năm 2016; đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên xác định là người có nhân thân xấu.
Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Xử lý vật chứng: 0,385g Methamphetamine hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành; 01 gói giấy ăn mầu trắng; 02 vỏ túi nilon mầu trắng bị cáo dùng cất giữ ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong, HĐXX tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra chưa xác định được họ tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý.
Đối với ông T, cho bị cáo mượn xe môtô nhưng không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Tại Biên bản vụ việc vào hồi 10 giờ 10 phút ngày 12-9-2021 có chữ ký của bị cáo, thể hiện chỉ thu giữ của bị cáo 01 gói giấy ăn màu trắng trong đó có 02 túi nilon màu trắng chứa ma túy và 01 xe mô tô Suzuki viva. Nhưng tại phiên tòa, bị cáo lại khai tình tiết mới: ngoài việc thu giữ xe mô tô và ma túy, bị cáo còn bị thu 01điện thoại Sam sung A21 màu xanh, có sim số 0396366601; 01 ví
4
da trong có 750.000đ nhưng bị cáo không có tài liệu chứng minh về việc này và cũng không có người chứng kiến nên bị cáo xác nhận lại chỉ bị thu giữ ma túy và xe mô tô, HĐXX không phải xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH
Căn!cứ!điểm c!khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên!bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 14-9-2021.
Xử! lý! vật! chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,385g Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 gói giấy ăn mầu trắng; 02 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong (Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03-11-2021).
Án!phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền!kháng!cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi!nhận:!
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- VKSND tỉnh Hải Dương;!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- VKSND huyện Cẩm Giàng;
- Cơ quan CSĐT Công an H Cẩm Giàng ;
- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.
- Chi cục THADS H. Cẩm Giàng.
- Nhà tạm giữ công an huyện Cẩm Giàng.
Đoàn!Thị!Thúy!
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, lưu VP
5