vanban.org

Bản án 60/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thị B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Thị B 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phan Thị B cho Uỷ ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bay - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thị B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HS-ST
Ngày 29-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Thái

Bà Lê Thị Bích Thuần

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Phan Thị B, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1970 tại xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn C 1, xã Ph, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ch và bà Lê Thị Ph; có chồng là Trần Văn Uy và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Anh Ngọc, sinh năm 1979, Luật sư

- Công ty Luật TNHH Nam Bình; địa chỉ: Số nhà 4, nghách 101/32 đường Đỗ Đức Đục, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội “có mặt”.

- Bị hại: Bà Hoang Thị L, sinh năm 1967; trú tại: Thôn C 1, xã Ph, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Trần Quang Đạo, sinh năm 1981- Luật sư, công ty luật TNHH Bình Minh; địa chỉ: Thôn Ngoại Trạch 1, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Hi, sinh năm 1991; trú tại: Thôn C 1, xã Ph, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hải Hư và anh Nguyễn Văn Tr“đều vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Hoang Thị L và Phan Thị B đều có hộ khẩu thường trú tại thôn Can Bi 1, xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc và có mâu thuẫn với nhau từ khoảng tháng 6 năm 2020 do bà Liên có ý kiến cho rằng gia đình bà Bảy đã xây dựng công trình lấn chiếm đất nông nghiệp nên khoảng 10 giờ ngày 28/7/2020, Phan Thị B 1 mình điều khiển xe đạp điện mang theo 01 cặp lồng bằng kim loại cứng (dạng inox) hình trụ, cao 14cm, đường kính 12cm, nặng 200gam để ở giỏ xe để đi mua cháo. Khi đi qua cổng nhà bà Hoang Thị L, Bảy gặp bà Liên đi xe đạp ra thì Bảy nói với bà Liên là: “bà Liên ơi, bà không kiện nhà tôi nữa à”. Sau đó, hai người vừa đi xe vừa cãi chửi nhau. Khi đi đến đoạn đường gần xưởng cơ khí nhà anh Nguyễn Hải Hưthì cả hai cùng dừng xe lại tiếp tục chửi nhau. Trong khi chửi nhau, Bảy dùng tay phải cầm chiếc cặp lồng bằng kim loại mang theo để đi mua cháo đánh 01 phát hướng chính diện chéo từ dưới lên trên trúng vào mũi của bà Liên làm bà Liên bị chảy máu mũi và bà Liên túm tóc Bảy ghì xuống phía dưới ngang bụng mình đồng thời bà Liên kêu to:“ối làng nước ơi, cứu tôi”. Nghe tiếng kêu cứu anh Nguyễn Hải Hưvà anh Nguyễn Văn Trở cùng thôn chạy đến can ngăn thì bà Liên và Bảy dừng lại không đánh nhau nữa. Lúc này, bà Liên bị chảy máu ở mũi và được anh Nguyễn Ngọc Đức đưa đến nhà bà Nguyễn Thị Báu ở cùng thôn để sơ cứu vết thương, sau đó chuyển xuống điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức Hà Nội từ ngày 28/7/2020 đến ngày 11/8/2020 ra viện. Tại Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức Hà Nội xác định bà Liên bị gãy xương cánh mũi bên phải, sưng nề má phải. Bà Liên tiếp tục khám và điều trị tại Bệnh viện tai mũi họng TW, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội ngày 12/8/2020; điều trị tại Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt từ ngày 31/8/2020 đến ngày 07/9/2020 thì ra viện. Bảy không bị thương tích gì, không đi điều trị ở đâu.

Phan Thị B đã thừa nhận hành vi dùng cạp lồng đánh gây thương tích cho bà Hoang Thị L, đồng thời tự nguyện giao nộp chiếc cặp lồng dùng đánh bà Liên cho cơ quan điều tra.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 416/TgT ngày 04/9/2020 và Kết luận giám định pháp y về thương tích số 616/TgT ngày 22/12/2020 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận về thương tích đối với bà Hoang Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: Xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Gãy xương chính mũi, xếp: 0 8%.

- Cơ chế hình thành nên thương tích: Thương tích đã mô tả trên do vật tày gây nên.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là: 08% (Tám phần trăm)”.

Ngày 21/10/2020, Cơ quan điều tra có Công văn số 887 gửi Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc, đề nghị giải thích tác động dẫn đến gãy xương chính mũi của bà Hoang Thị L. Ngày 22/10/2020, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có công văn trả lời số 39/PY-GĐTH xác định: “Tác động dẫn đến gãy xương chính mũi của bà Hoang Thị L - SN: 1967 trú tại thôn Can Bi 1, xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc là do vật tày tác động theo chiều hướng chính diện chéo từ dưới lên trên”.

Ngày 11/12/2020, bà Hoang Thị L có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phan Thị B.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSBX ngày 23 tháng 3 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố Phan Thị B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bảy từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường giữa bị cáo và bị hại. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 66.000.000đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 11.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên để bồi thường cho bị hại, nên cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 55.000.000 đồng theo thỏa thuận của các bên. Đồng thời đề nghị về xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người bị hại bà Hoang Thị L trình bày và xác nhận: Toàn bộ nội dung sự việc bị cáo Bảy đánh bà như bị cáo khai và như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên công bố là đúng bà không bổ sung gì thêm. Về hình phạt bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Về phần dân sự bà yêu cầu bị cáo Bảy phải bồi thường cho bà toàn bộ chi phí nằm viện là 11.500.000đồng; tiền đi lại để đi khám chữa bệnh từ xã Phú Xuân đi Hà Nội và từ Hà Nội về Phú Xuân; tiền đi từ xã Phú Xuân đi Bệnh viện Lạc Việt và và từ Bệnh viện Lạc Việt về xã Phú Xuân là 2.800.000đồng; tiền tiền công mất thu nhập trong 40 ngày nằm viện là 4.700.000đồng; tiền mất thu nhập sau nằm viện 02 tháng là 7.000.000đồng; tiền công người chăm sóc 40 ngày nằm viện là 16.000.000đồng; tiền mua thuốc và tiền bồi dưỡng sức khỏe là 9.000.000đồng; tiền tổn thất về tinh thần là 15.000.000đồng; Tổng số tiền là 66.000.000đồng. Ngoài ra bà không yêu cầu bị cáo Bảy phải bồi thêm bất kỳ khoản tiền nào khác.

Người bào chữa cho bị cáo Bảy phát biểu ý kiến: Không tranh luận gì về tội danh cũng như mức hình phạt viện kiểm sát đề nghị. Mong Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Về dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Về tội danh cũng như điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai: Trong thời gian mẹ anh là bà Hoang Thị L nằm viện, anh là người trực tiếp chăm sóc bà, anh làm lao động tự do với mức thu nhập bình quân khoảng 20.000.000đ/tháng. Nay mẹ anh là bà Liên yêu cầu các khoản bồi thường về dân sự trong đó có tiền công người chăm sóc 40 ngày nằm viện là 16.000.000đồng, anh đồng ý và không có ý kiến gì.

Người làm chứng tuy vắng mặt phiên tòa nhưng tại lời khai có trong hồ sơ người làm chứng đều trình bày và xác nhận: Khi nghe thấy tiếng kêu cứu chạy đến thì thấy bà Liên đang túm tóc Bảy, mũi bà Liên bị chảy máu nên đến can ngăn. Ngoài ra không biết gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận thương tích của bị hại do bị cáo gây ra nên bị cáo không có thắc mắc gì về kết luận giám định cũng như Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “cố ý gây thương tích”. Bị cáo khai nhận: Do có mâu thuẫn từ trước trong việc bà Hoang Thị L có ý kiến cho rằng gia đình bị cáo đã xây dựng công trình lấn chiếm đất nông nghiệp, nên khoảng 10 giờ ngày 28/7/2020, tại đoạn đường dân sinh thuộc thôn Can Bi 1, xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, khi Bảy và bà Liên cãi nhau, Bảy đã cầm 01 chiếc cặp lồng bằng kim loại cứng hình trụ, cao 14cm, đường kính 12cm, nặng 200gam đánh 01 phát vào vùng mặt của bà Liên. Hậu quả, bà Liên bị gãy xương chính mũi, tổn hại 08% sức khỏe. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, quá trình cấp cứu điều trị của người bị hại, kết luận giám định thương tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tuy tỷ lệ thương tật của người bị hại là 08% nhưng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/4/2003 và Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì cặp lồng bị cáo dùng đánh gây thương tích cho người bị hại là hung khí nguy hiểm. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự:

Nội dung điều luật quy định: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể ... dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Dùng ... hung khí nguy hiểm…”

[2] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại khu vực, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã nhận thức được hành vi dùng cặp lồng đánh gây thương tích cho bị hại là sai nên đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên nộp số tiền 11.000.000đồng để bồi thường cho bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nghề nghiệp và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy, cần cho bị cáo một cơ hội, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà tổng số tiền 66.000.000đồng gồm: Tiền phí nằm viện là 11.500.000đồng; tiền đi lại để đi khám chữa bệnh là 2.800.000đồng; tiền tiền công mất thu nhập trong 40 ngày nằm viện và tiền mất thu nhập sau nằm viện 02 tháng là 11.700.000đồng; tiền công người chăm sóc 40 ngày nằm viện là 16.000.000đồng; tiền mua thuốc và tiền bồi dưỡng sức khỏe là 9.000.000đồng; tiền tổn thất về tinh thần là 15.000.000đồng.

Tại phiên tòa bị cáo và bị hại thỏa thuận: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại với tổng số tiền là 66.000.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các bên về việc bồi thường là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho bị hại số tiền 11.000.000đồng do bị cáo nộp tại cơ quan Thi hành án huyện Bình xuyên để bồi thường cho bị hại, số tiền còn lại bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường cho bị hại sau. Xét đề nghị của bị cáo là phù hợp nên cần trả cho bị hại số tiền 11.000.000đồng và buộc bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho bị hại số tiền 55.000.000đồng.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc cặp lồng bằng kim loại cứng hình trụ, cao 14cm, đường kính 12cm là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Thị B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thị B 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Thị B cho Uỷ ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thị B phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Hoang Thị L tổng số tiền 66.000.000đ (Sáu mươi sáu triệu đồng) (Gồm tiền chi phí trong quá trình năm viện, tiền đi lại để đi khám chữa bệnh; tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện và tiền mất thu nhập sau nằm viện; tiền công người chăm sóc khi nằm viện; tiền mua thuốc và tiền bồi dưỡng sức khỏe; tiền tổn thất về tinh thần). Bị cáo Bảy đã tự nguyện nộp số tiền 11.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên để bồi thường cho bà Liên. Buộc bị cáo Bảy phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bà Liên số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thanh toán trả khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trả bà Hoang Thị L số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) (Là tiền bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên để bồi thường cho bà Liên theo biên lai thu tiền số AA/2019/0000724 ngày 08/4/2021 và biên lai thu tiền số AA/2019/0000767 ngày 29/6/2021).

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cặp lồng bằng kim loại cứng.

(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 01 tháng 4 năm 2021).

Về án phí: Buộc bị cáo Phan Thị B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.750.000đ (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong án hình sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ