vanban.org

Bản án 60/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn anh Vũ Đình L.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Ngọc A, sinh ngày 15/8/2017; giao cho anh Vũ Đình L trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Y, sinh ngày 02/7/2015; không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này. Chị A và anh L có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Lan A xin ly hôn anh Vũ Đình L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn anh Vũ Đình L.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao; Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23-12-2021
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia
đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hoàn; bà Đoàn Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2021/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2021 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1997

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Vũ Đình Liên, sinh năm 1991

Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*) Tại đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Lan A trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:

Chị và anh Vũ Đình L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 11/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống cùng gia đình anh Liên tại thôn B, xã N, huyện K. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, xô xát, chị đã bị anh L đánh. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế và do anh L không có trách nhiệm với vợ con. Mặc dù chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Liên không thay đổi làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung ngày càng căng thẳng nên đến ngày 14/7/2021 chị cùng hai con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nữa. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Đình L.

Chị và anh L có 02 con chung là Vũ Hải Y, sinh ngày 02/7/2015 và Vũ Ngọc A, sinh ngày 15/8/2017, con Vũ Ngọc A đang ở cùng chị, con Vũ Hải Y đang ở cùng anh L. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Ngọc A vì con còn nhỏ nên rất cần sự nuôi dưỡng và chăm sóc của chị, anh L trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Y vì con đang sinh sống và học tập ổn định, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại chị là công nhân tại Công ty cổ phần sản xuất hàng thể thao Tân Đệ, thu nhập bình quân khoảng 6.000.000đ đến 7.000.000đ/tháng, chị đang ở nhà bố mẹ đẻ, bố mẹ chị đã đang và sẽ hỗ trợ chị trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con, chị có đủ điều kiện để nuôi con, đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con. Còn anh L lái xe taxi, thu nhập khoảng 7.000.000đ/tháng, anh Liên ở cùng mẹ đẻ, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con.

Chị và anh Ln tự phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, không nợ ai tài sản gì, không có tài sản cho người khác vay.

*) Bị đơn là anh Vũ Đình Li không trình bày lời khai, không tham gia tố tụng tại Tòa án.

*) Ông Nguyễn Trọng L (là bố đẻ của chị Nguyễn Thị Lan A) trình bày:

Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Vũ Đình L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống, chị Lan A và anh L đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xô xát, chị A bị anh L đánh. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế và do anh L không có trách nhiệm với vợ con. Ông và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, hòa giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dạy con cái nhưng không có kết quả. Đến ngày 14/7/2021, do mâu thẫn vợ chồng trầm trọng nên chị Anh cùng hai con về nhà ông sinh sống đến nay, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Việc chị A và anh L đoàn tụ hay ly hôn là do anh chị quyết định nhưng theo ông hai người khó đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị Lan A và anh L có 02 con chung như chị A đã trình bày là đúng, từ khi vợ chồng ly thân chị A đã được gia đình ông hỗ trợ tối đa trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc các con. Nếu chị Anh và anh L ly hôn, ông đề nghị giao cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Hải Y, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Ngọc A, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của chị A và anh L thì ông không nắm được, vợ chồng không có nợ cá nhân, tổ chức nào.

*) Đại diện chính quyền địa phương nơi anh Liên cư trú cung cấp nội dung như sau:

Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Vũ Đình L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K theo quy định pháp luật và cư trú tại thôn B, xã N, huyện K. Quá trình chung sống, chị A và anh L có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức địa phương phải can thiệp. Tháng 7/2021 chị Anh về nhà bố mẹ đẻ sinh sống đến nay. Việc chị A và anh L đoàn tụ hay ly hôn là do hai người quyết định, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị Anh và anh Liên có 02 con chung như chị A trình bày là đúng, hiện nay chị A làm công nhân tại Công ty may Tân Đệ, còn anh L lái xe taxi, thu nhập của hai người như thế nào địa phương không rõ. Việc nuôi con chung đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng người và phù hợp quy định của pháp luật để giao cho người đó, đảm bảo quyền lợi cho các cháu.

Về tài sản chung của chị A và anh L địa phương không nắm được, vợ chồng không nợ gì đối với các tổ chức, đoàn thể tại địa phương.

*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

+ Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn anh Vũ Đình L.

+ Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Ngọc A, sinh ngày 15/8/2017, giao cho anh Vũ Đình L trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Y, sinh ngày 02/7/2015; không ai phải cấp dưỡng nuôi con; chị Anh và anh Liên có quyền thăm nom và chăm sóc con, yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định.

+ Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

+ Chị A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

+ Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để trình bày lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn là anh Vũ Đình L không trình bày lời khai, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Lan A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án xét xử trong trường hợp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Vũ Đình L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, xô xát, chị A đã bị anh L đánh. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế và do anh L không có trách nhiệm với vợ con. Mặc dù chị A và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh L không thay đổi làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung ngày càng căng thẳng nên đến ngày 14/7/2021 chị cùng hai con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm đến nhau. Anh L không có mặt tại phiên hòa giải thể hiện việc anh không có thiện chí để đoàn tụ với chị A. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị A và anh L là có thật và ngày càng căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn anh Vũ Đình L là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Chị A và anh L có 02 con chung là Vũ Hải Y, sinh ngày 02/7/2015 và Vũ Ngọc A, sinh ngày 15/8/2017, hiện cháu Y đang ở cùng anh L, cháu A đang ở cùng chị A. Ly hôn, chị A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Ngọc A vì con còn nhỏ nên rất cần sự nuôi dưỡng và chăm sóc của chị, anh Liên trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Y vì con đang sinh sống và học tập ổn định; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Chị A và anh L đều có thu nhập, có chỗ ở, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con nên cần giao cho mỗi người nuôi 01 con như chị A đề nghị là có căn cứ. Do đó, áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Ngọc A, anh L trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Y, do các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

Về tài sản chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, anh Liên chưa có lời khai về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Căn cứ nhận xét trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 203, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn anh Vũ Đình L.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Ngọc A, sinh ngày 15/8/2017; giao cho anh Vũ Đình L trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Y, sinh ngày 02/7/2015; không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

Chị A và anh L có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.

3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị A đã nộp tạm ứng lệ phí, án phí tại biên lai thu tạm ứng lệ phí số 0001471 ngày 12/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Thái Bình thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ