- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Ánh L ly hôn anh Phạm Trung T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24/5/2021 V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Xuân Trường
2. Bà Nguyễn Thị Bình
-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2021/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2021, về việc tranh chấp: Ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ánh L, sinh năm 1995
Trú: số nhà 90 Nguyễn Thị Định, tổ 5, khu phố 7, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
2. Bị đơn: Anh Phạm Trung T, sinh năm 1995
HKTT: số 219 Trần Hưng Đạo, tổ 1, khu phố 4, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn Trần Thị Ánh Linh trình bày:
Chị Trần Thị Ánh L và anh Phạm Trung T kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân là do hai vợ chồng tính tình không hợp nhau, không thể cùng nhau giải quyết nhiều vấn trong cuộc sống. Năm 2018 chị L đã làm đơn ly hôn nhưng vì con lúc đó còn nhỏ và muốn tạo cơ hội cho vợ chồng đoàn tụ nên chị đã rút đơn, nay vợ chồng vẫn không thể sống hạnh phúc được, đã sống ly thân từ tháng 8/2019, chị L xác định không thể sống chung với anh T được nữa nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: vợ chồng chị L có 01 người con chung là Phạm Trần Trung K, sinh ngày 02/5/2018. Khi ly hôn thì chị L xin được nuôi con vì con còn nhỏ, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Qua xác minh, xác định được thông tin như sau:
Chị Trần Thị Ánh L và anh Phạm Trung T kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đức Tài. Sau khi kết hôn thì về chung sống với bên phía chồng tại số 219 Trần Hưng Đạo, tổ 1, khu phố 4, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh được một thời gian. Cuộc sống hôn nhân của L và T trong giai đoạn đầu thì hạnh phúc nhưng từ khi T bị nghiện ma túy thì vợ chồng bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường cải vã nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc, L đã bỏ về nhà mẹ ruột tại thị trấn Võ Xu để sinh sống. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người sống mỗi nơi từ tháng 8 năm 2019
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, các đương sự không có đơn tranh chấp tài sản chung và nợ chung, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:
Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã đúng thành phần, tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định.
Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Tòa án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh T không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, anh T bị nghiện ma túy, do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L. Về con chung: cháu Phạm Trần Trung K, sinh ngày 02/5/2018 còn nhỏ, nên nghĩ cần giao cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Phạm Trung T không đến tham gia.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:
Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2021, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thị Ánh L là nguyên đơn, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phạm Trung T là bị đơn, đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Nên tiến hành xét xử vắng chị L và anh T, là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Giữa chị L và anh T tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa anh chị không còn hạnh phúc, vì tính tình không hòa hợp, mặt khác qua xác minh, xác định được vợ chồng chị L đã không còn sống chung với nhau từ tháng 8 năm 2019, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, trong các bản khai cũng như đơn xin xét xử vắng mặt thì chị L kiên quyết yêu cầu được ly hôn anh T. Do đó căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.
Về con chung: Chị L và anh T có 01 người con chung tên: Phạm Trần Trung K, sinh ngày 02/5/2018. Xét thấy, cháu K tuổi còn nhỏ cần có sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ, mặt khác chị L có đầy đủ sức khỏe có thể nuôi con, nên nghĩ cần giao cháu K cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xử:
1. Chị Trần Thị Ánh L ly hôn anh Phạm Trung T.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Ánh L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung: Phạm Trần Trung K, sinh ngày 02/5/2018. Anh Phạm Trung T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Ánh L phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005250 ngày 10/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện;
(đã ký)
- CCTHADS huyện;
- Nơi đăng ký kết hôn;
- Đương sự;
- Lưu./
Lê Minh Tuấn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA Nguyễn Thị Bình
Nguyễn Đình Ba
Lê Minh Tuấn
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND huyện; -CCTHADS huyện; -Nơi đăng ký kết hôn; -Đương sự; -Lưu./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |