vanban.org

Bản án 60/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm N được ly hôn với anh Đào Phương D. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 05/5/2014 của Ủy ban nhân dân xã Tân Hung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao hai con chung tên Đào Phương N1, sinh ngày 22/4/2015 và Đào Phương T, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Lê Thị Cẩm N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đào Phương D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Cẩm N - Đào Phương D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm N được ly hôn với anh Đào Phương D. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 05/5/2014 của Ủy ban nhân dân xã Tân Hung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 60/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2021
V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tiến

2. Bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm N, sinh năm 1995; (có mặt)

Trú tại: ấp A, xã AT, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Anh Đào Phương D, sinh năm 1993; (có mặt)

Trú tại: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/02/2021, trong quá tr nh t tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm N trình bày:

Chị và anh D cưới nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 05/5/2014, trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 8/2020 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bất hòa với nhau do anh D không chung thủy với chị, anh D thường xuyên nhắn tin liên hệ và có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, không còn quan tâm chăm sóc vợ con như trước, tình cảm vợ chồng rạn nứt và cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Chị và anh D sống ly thân từ tháng 12/2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên đã không hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Chị xác định không còn tình cảm với anh D nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Có 02 con chung Đào Phương N, sinh ngày 22/4/2015 và Đào Phương T, sinh ngày 22/10/2016. Hai con chung đang sống chung với chị và ông bà ngoại. hai cháu đều được nuôi dưỡng tốt. Chị yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/6/2021, trong quá tr nh t tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Đào Phương D trình bày:

Về hôn nhân anh không đồng ý ly hôn với N, anh còn thương vợ thương con, muốn chị N cho anh thêm cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng lo cho con. Anh thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra bất hòa, mâu thuẫn với nhau nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau, chị N ghen tuông vô cớ. Anh thừa nhận anh có nhắn tin liên hệ với người phụ nữ khác, nhưng đó chỉ là bạn bè bình thường, không có quan hệ tình cảm gì. Sự việc xãy ra anh có năn nỉ chị N nhưng chị N không tha thứ cho anh. Anh đã cố gắng tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không kết quả. Từ đó, anh và chị N không còn quan tâm, chăm sóc, thương yêu nhau như trước. Anh và chị N sống ly thân nhau từ tháng 12/2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh đã cố gắn tìm biện pháp hàn gắn tình cảm với chị N nhưng không kết quả. Do còn thương vợ con nên anh không đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: Có 02 con chung Đào Phương N1, sinh ngày 22/4/2015 và Đào Phương T, sinh ngày 22/10/2016. Hai con chung đang sống chung với ông bà ngoại. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quan đi m của đại diện Viện ki m sát:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành N1êm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh D. Về con chung: giao 02 con chung tên Đào Phương N1, sinh ngày 22/4/2015 và Đào Phương T, sinh ngày 22/10/2016 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua N1ên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh D cưới nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng vào ngày 05/5/2014 trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2020 thì xảy ra bất hòa, mâu thuẫn với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc do hai bên thiếu sự tin tưởng, yêu thương nhau. Anh D cũng thừa nhận có nhắn tin liên hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau như trước. Chị N và anh D đã sống ly thân từ tháng 12/2020 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, chị N và anh D đã tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn hàn gắn tình cảm nhưng không kết quả. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị N và anh D đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó chị N yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị N và anh D có 02 con chung Đào Phương N1, sinh ngày 22/4/2015 và Đào Phương T, sinh ngày 22/10/2016. Hai con chung đang sống chung với chị N và ông bà ngoại. Hiện nay hai con chung do chị N nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Anh D có yêu cầu nuôi con chung nhưng anh D thừa nhận hiện nay các con chung do chị N và gia đình bên Ngoại nuôi dưỡng. Gia đình bên ngoại cũng như chị N vẫn tạo diều kiện cho ông bà nội tới lui thăm nom và rước về nhà chơi. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T và cháu N1 của chị N là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị N tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Cẩm N phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm N được ly hôn với anh Đào Phương D. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 05/5/2014 của Ủy ban nhân dân xã Tân Hung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao hai con chung tên Đào Phương N1, sinh ngày 22/4/2015 và Đào Phương T, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Lê Thị Cẩm N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Đào Phương D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Cẩm N phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0006622 ngày 18/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ