- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Đức - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30…
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HSST Ngày 29/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quốc Tuấn
2. Ông Trần Hữu Trung
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Bà Lương Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2020/TLST-HS ngày 03/7/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2020/QĐXXST-HS ngày 15/7/2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn Đ, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/01/1987, tại thị xã ĐT, tỉnh QN; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/cư trú hiện nay: Khu VT, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh QN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Vi Văn Ngh, sinh năm 1958 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Vi Thị D, sinh năm 1959; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/5/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.
*Người chứng kiến: 1.Bà Vũ Thị V, sinh năm 1960, địa chỉ: Tổ 3, khu Vĩnh Tân, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.
2.Ông Trần Văn Ch, sinh năm 1963, địa chỉ: Tổ 1, khu Vĩnh Tân, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 29/5/2020, tại khu cầu Tràn Suối Sâu thuộc khu Vĩnh Tân, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Đông Triều phát hiện bắt quả tang Vi Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ tại tay trái Đ đang cầm 03 (ba) túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 14Y1 – 176.42. (Bút lục 23 đến 26).
Tại Bản kết luận giám định số 588/KLGĐ ngày 03/6/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Vi Văn Đ trong 03 (ba) túi nilon gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,663 gam (không phẩy sáu sáu ba gam). (Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, STT: 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất). Quá trình điều tra, Vi Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy, Đ khai: Khoảng 23 giờ ngày 28/5/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên Đ một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14Y1 – 176.42 đi từ nhà đến ngã tư HS thuộc thị xã KS, tỉnh HD tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp và thỏa thuận mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy dạng đá. Sau khi mua được ma túy Đ mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/5/2020, Đ cầm số ma túy trên ở tay trái và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu Tràn Suối Sâu thuộc khu Vĩnh Tân, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Bản cáo trạng số 61/CT - VKS - ĐT ngày 02/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố Vi Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; Tịch thu tiêu hủy 0,52g (không phẩy năm hai gam) ma túy loại Methamphetmine hoàn lại sau giám định, đựng trong 01 (một) phong bì số 588/KLGĐ; Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphnoe 7 màu đen, đã cũ. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, lời khai của bị cáo thể hiện: Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 29/5/2020, tại khu cầu Tràn Suối Sâu thuộc khu Vĩnh Tân, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Vi Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 03 (ba) túi nilon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,663 gam (không phẩy sáu sáu ba gam), để sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến là ông Trần Văn Ch và bà Vũ Thị V về việc bắt quả tang bị cáo, thu giữ vật chứng và lời khai của bị cáo tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
..."1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.”
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Về khách thể: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện.
Về chủ thể: Bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Về chủ quan: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về khách quan: Bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,663g (không phẩy sáu sáu ba gam) chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Như chúng ta đã biết, ma túy làm suy giảm sức khỏe, đặc biệt là hủy hoại hệ thần kinh của con người, gây ra ảo giác làm người sử dụng ma túy không làm chủ được hành vi của bản thân, là nguyên nhân phát sinh gia tăng nhiều loại tội phạm, là nguyên nhân lây nhiễm HIV/AID. Trong khi Nhà nước và cộng đồng đang nỗ lực tìm mọi biện pháp ngăn chặn tệ nạn ma túy, thì hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo là tiếp tay cho tội phạm ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh trật tự xã hội nên cần xử phạt nghiêm, phải cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nên không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra hiện tạm giữ 01 phong bì niêm phong số 588/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, màn hình bị nứt vỏ. Trong đó phong bì niêm phong đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, là vật cấm lưu hành, tịch thu tiêu hủy; Chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền tuy nhiên xét bị cáo là người nghiện ma túy, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Liên quan trong vụ án, Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để xử lý. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14Y1 – 176.42, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[1].Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Đ phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Vi Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/5/2020.
[2]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, niêm phong đúng quy định số 588/KLĐG của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Trả lại Vi Văn Đ 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 màu đen, bị vỡ màn hình. “tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 69 ngày 03/7/2020, giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều”.
[3]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; -VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - Công an thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - STP tỉnh Quảng Ninh và Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Văn Giới |