vanban.org

Bản án 60/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 29/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Chí Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Chí Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 26/8/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Chí Đấu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Chí Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2020/HS-ST
Ngày: 29-12-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Bé Ngọc

Ông Nguyễn Đông Hà

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Trần Trung Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Chí Đ, tên gọi khác: không, sinh năm 1982, tại Vị Th, tỉnh Hậu Giang; HKTT: ấp 6, xã Vị T, thành phố Vị Th, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn U, sinh năm 1945 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1949; chưa có vợ con; anh chị em ruột có 05 người; tiền án: không, tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 13/12/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, theo quyết định số 15/2017/QĐ-TA.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/8/2020 đến ngày 29/8/2020 chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn A, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: số 3/68, khu phố P, thị trấn Phước H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1958.

Nơi cư trú: ấp 9, xã Vị Th, huyện Vị Th, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1964.

Nơi cư trú: ấp 6, xã V, thành phố Vị Th, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 25/8/2020, Trần Chí Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72H8-1322 từ nhà đến khu vực cầu Long Bình tìm một người tên Đ1 để cùng sử dụng ma túy nhưng không gặp. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô chạy về hướng thành phố Vị Thanh. Khi đi đến ngã ba đường tránh Quốc lộ 61 thì bị Tổ tuần tra của Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Hậu Giang yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Khi kiểm tra đã phát hiện trong túi da màu đen để trong túi quần bên trái của Trần Chí Đ đang mặc trên người có:

- 05 (năm) đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy);

- 02 (hai) ống kim tiêm đã qua sử dụng;

- 01 (một) ĐTDĐ hiệu Samsung màu trắng số IMEL: 358931069025950 có gắn sim số: 0582325451.

Lực lượng tuần tra đã tiến hành bàn giao người và tang vật cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Vị Thủy để xử lý theo thẩm quyền.

Qua làm việc, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vị Thủy đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trần Chí Đ tại ấp 6, xã Vị T, thành phố Vị Th, tỉnh Hậu Giang. Qua khám xét đã thu giữ được 08 (tám) ống kim tiêm đã qua sử dụng tại phòng ngủ của Đ.

Quá trình điều tra Trần Chí Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, số ma túy lực lượng Công an thu giữ được là của Đ mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi tại Cầu đi bộ số 2 thuộc địa bàn quận 8, thành phố Hồ Chí Minh với giá 240.000 (hai trăm bốn mươi ngàn) đồng. Mua xong, Đ mang về chia nhỏ thành 6 (sáu) phần đựng trong ống nhựa được hàn kín hai đầu. Đ đã sử dụng hết 01 (một) phần, còn lại 05 (năm) phần đang cất giữ trong túi nhựa màu đen, trong túi quần bên trái để tiếp tục sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 52/KLGĐ-PC09(MT) ngày 28/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang kết luận:“Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 05 (năm) đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng: 0,14358 gam, loại Heroin”.

Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-HVT ngày 04/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Trần Chí Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Chí Đ, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Các điều 32, 38 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đ đến 10.000.000 đ.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) túi da màu đen hiệu “Gucci”.

- 01 (Một) phong bì được đóng gói niêm phong mẫu vật, vụ số 52/2020 ngày 28/8/2020, có chữ ký người chứng kiến tên Nguyễn Duy Tân và chữ ký Lê Doãn Vẹn 04 dấu tròn niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang.

- 02 (hai) ống kim tiêm đã qua sử dụng.

- 08 (tám) ống kim tiêm đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo: (một) ĐTDĐ hiệu Samsung màu trắng số IMEL: 358931069025950 có gắn sim số: 0582325451.

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 72H8-1322 nhãn hiệu WAYMAN, số máy: 152FMH-1019476; số khung: WCH023TH-019476.

Trách nhiệm dân sự: Không

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Viện kiểm sát đã truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn A, người chứng kiến là ông Nguyễn Văn G và ông Nguyễn Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đối với ông Trần Văn A là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 72H8-1322 nhưng ông Trần Văn A khai là đã bán và không có yêu cầu gì. Do đó việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.

Đối với bà Huỳnh Thị T sau khi nghiên cứu hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa thể hiện bà Huỳnh Thị T không có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử xác định bà Huỳnh Thị T không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Chí Đ đã thừa nhận hành vi của mình và thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo nên có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng ngày 22/8/2020 bị cáo mua gói ma túy với giá 240.000 đ của người đàn ông lạ mặt và không rõ nhân thân lai lịch tại cầu đi bộ số 02 thuộc địa bàn quận 8, thành phố Hồ Chí Minh đem về nhà chia nhỏ thành 06 phần để sử dụng, bị cáo đã sử dụng 01 phần còn lại 05 phần bị cáo cất giữ để tiếp tục sử dụng thì đến ngày 25/8/2020 bị Công an kiểm tra và bắt quả tang.

. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã biết rõ chất ma túy là một chất gây nghiện, hiện nay Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua ma túy tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác.

Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra để bị cáo tự nhận thức, sửa chữa lỗi lầm của mình và giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời răn đe tình hình phạm tội phát sinh nói chung.

. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những căn cứ nêu trên xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về vật chứng:

Đối với: 01 (một) túi da màu đen hiệu “Gucci”, 01 (Một) phong bì được đóng gói niêm phong mẫu vật, vụ số 52/2020 ngày 28/8/2020, có chữ ký người chứng kiến tên Nguyễn Duy Tân và chữ ký Lê Doãn Vẹn 04 dấu tròn niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang, 02 (hai) ống kim tiêm đã qua sử dụng, 08 (tám) ống kim tiêm đã qua sử dụng là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng số IMEL: 358931069025950 có gắn sim số: 058232545 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 72H8-1322 nhãn hiệu WAYMAN, số máy: 152FMH-1019476; số khung: WCH023TH-019476 do ông Trần Văn A đứng tên chủ sở hữu nhưng ông Trần Văn A khai đã bán, không nhớ bán cho ai và cũng không có yêu cầu gì. Trong quá trình giải quyết vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã thông báo ai là chủ sở hữu của xe mô tô nêu trên thì liên hệ để giải quyết nhưng đã hết thời gian thông báo cũng không có ai có yêu cầu. Bị cáo khai là xe do bị cáo mua nhưng không có giấy tờ, xét thấy xe mô tô trên do bị cáo đang quản lý sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo. Nếu phát sinh tranh chấp thì sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Đối với người đàn ông khoảng 50 tuổi theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy cho bị cáo tại Cầu đi bộ số 2 thuộc địa bàn quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Do chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vị Thủy đã có công văn yêu cầu Công an quận 8, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định.

Đối với người tên “Đ1” ở khu vực cầu Long Bình thuộc phường Bình Thạnh, thị xã Long Mỹ theo lời khai của bị cáo là người mà bị cáo đi tìm để cùng sử dụng ma túy. Do chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có đủ cơ sở xử lý.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, 5 Điều 249; các Điều 32, 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Chí Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Chí Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 26/8/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Chí Đ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Về vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; các Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) túi da màu đen hiệu “Gucci”

- 01 (Một) phong bì được ghi chữ niêm phong vụ số 52/2020, ngày 28/8/2020, có chữ ký người chứng kiến tên Nguyễn Duy Tân và chữ ký Lê Doãn Vẹn 04 dấu tròn niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang.

- 02 (hai) ống kim tiêm đã qua sử dụng;

- 08 (tám) ống kim tiêm đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) ĐTDĐ hiệu Samsung màu trắng số IMEL: 358931069025950 có gắn sim số: 0582325451.

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 72H8-1322 nhãn hiệu WAYMAN, số máy: 152FMH-1019476; số khung: WCH023TH-019476.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2020).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Chí Đ phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ