- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn Th Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vì Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 60/2020/HS-ST Ngày: 29/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguy n Thanh Ng c
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguy n Quang Khải
2. Ông Lường Văn Hịa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Vì Văn Th, tên g i khác: không; sinh năm 1976 tại Điện Biên;
Nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;
Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hoá: 2/Xóa mù; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vì Văn P (Đã chết) và bà Lò Thị V, có vợ là Vì Thị Ng bị cáo có 02 con. Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: trước khi bị bắt chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật gì; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/02/2020, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy An - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ ngày 20/02/2020, khi Vì Văn Th đang ở nhà thuộc khu vực bản Sam Mứn, xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại túi áo ngực bên phải của Th đang mặc 02 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,22 gam và 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,34 gam. Bị cáo khai nhận số ma túy trên có được là do vào khoảng 08 h cùng ngày bị cáo đi bộ đến khu vực cánh đồng thuộc bản Sam Mứn, xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đ để bản thân sử dụng. Sau khi mua bị cáo về nhà và dùng tay cấu một ít Heroine sử dụng bằng hình thức hít, toàn bộ số ma túy còn lại thì bị công an phát hiện và thu giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử mi n án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bản cáo trạng số: 72/CT-VKSĐB ngày 27/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vì Văn Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vì Văn Th với mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Vì Văn Th gồm: 0,34 gam Heroine, đã trích mẫu giám định 0,11 gam, còn lại 0,23 gam và 0,22 gam Methamphetamine, đã trích mẫu giám định 0,1 gam, còn lại 0,12 gam; Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, về tình tiết tăng nặng giảm nh trách nhiệm hình sự. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nguyên nhân, mục đích phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo để cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nh qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, người bào chữa còn đề nghị Hội đồng xét xử mi n án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt nh nhất cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 13 giờ ngày 20/02/2020, tại nhà ở của mình thuộc khu vực bản Sam Mứn, xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Vì Văn Th đã bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy 0,22 gam Methamphetamine và 0,34 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Heroine và Methamphetamine đều là chất ma túy được qui định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, theo qui định tại điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của bị cáo là 0,56 gam tương đương khối lượng ma túy qui định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi tàng trữ 02 chất ma túy nêu trên của bị cáo đã phạm vào điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của Th đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với l i cố ý trực tiếp.
Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Vì Văn Th có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố.
Về tính chất, mức độ nghiêm tr ng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự:
Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm tr ng, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma túy, coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nh theo qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ nên không chấp nhận.
Xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; xét thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề xuất áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ý kiến của người bào chữa đề ngị áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là không tương xứng với hành vi của bị cáo nên không chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có tài sản gì có giá trị lớn tại địa phương nơi sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy 0,34 gam Heroine và 0,22 gam Methamphetamine vật chứng thu giữ của bị cáo là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Về vấn đề có liên quan khác: Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không rõ tên, địa chỉ, cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với người này.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên; người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cho nên hầu hết các hành vi, quyết định tố tụng của những người này đều đảm bảo tính hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, các khoản 1 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vì Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vì Văn Th 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (Ngày 20/02/2020).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,34 gam Heroine, đã trích mẫu giám định 0,11 gam, còn lại 0,23 gam và 0,22 gam Methamphetamine, đã trích mẫu giám định 0,1 gam, còn lại 0,12 gam thu giữ của Vì Văn Th; (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2020 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/4/2020).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - Công an huyện ĐB; - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ C HĐB; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Bị cáo; NBC; - Lưu hồ sơ vụ án; - Hồ sơ TH hình sự; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |