- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị X tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Lê Bá Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị X về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Lê Bá Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HNGĐ-ST Ngày: 27-7-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.
2. Ông Tô Văn Nhung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXX-ST ngày 15 tháng 6 năm 2020; Quyết Đ hoãn phiên tòa số 49/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2020, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Lê Thị X, sinh năm 1991; thường trú: Xóm 1, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số 555/1A khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2/ Bị đơn: Anh Lê Bá Đ, sinh năm 1987; thường trú: Xóm 1, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số 555/1A khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị X và anh Lê Bá Đ có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 03 tháng thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 21/2015, quyển số 01/2015 ngày 04/3/2015.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Lê Bá Đ thường xuyên chửi, đánh chị X, không tôn trọng chị X dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay chị X xác Đ tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn với anh Lê Bá Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Bá A, sinh ngày 28/02/2016. Sau khi ly hôn, chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, chị X làm công nhân tại Tổng Công ty Cổ phần may V, thu nhập 01 tháng từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Lê Bá Đ: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không có ý kiến gì, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 12/6/2020 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị X và anh Lê Bá Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 21/2015, quyển số 01/2015 ngày 04/3/2015 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị Lê Thị X xác Đ vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lê Bá Đ thường xuyên chửi, đánh chị X, không tôn trọng chị X dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ nhưng Hội liên hiệp phụ nữ không biết nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh Đ đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Đ không đến, đồng thời chị X có đơn từ chối hòa giải. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị X là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Lê Thị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Bá A, sinh ngày 28/02/2016. Khi giải quyết việc ly hôn, Tòa án cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Lê Bá A hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Quá trình tố tụng, anh Đ không có ý kiến gì về việc chị X yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng: Chị X không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị X nên Tòa án ghi nhận.
[2.4] Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị X phải chịu án phí ly hôn theo quy Đ tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị X về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Lê Bá Đ.
1.1 Về hôn nhân: Chị Lê Thị X được ly hôn với anh Lê Bá Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2015, quyển số 01/2015 ngày 04/3/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp).
1.2 Về con chung: Giao con chung tên Lê Bá A, sinh ngày 28/02/2016 cho chị Lê Thị X trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau ly hôn, chị Lê Thị X và anh Lê Bá Đ đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết Đ thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
1.3 Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị X không yêu cầu anh Lê Bá Đ cấp dưỡng nuôi con.
1.4 Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị X phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0040338 ngày 28/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố D (01); - CCTHA DS thành phố D (01); - Đương sự (02); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |