vanban.org

Bản án 60/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Bàn Tòn S (Bàn Văn N) được ly hôn chị Lý Thị D.

Về nuôi con chung: Giao cho anh Bàn Tòn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bàn Hữu B, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006 và cháu Bàn Hữu T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2010 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Chị Lý Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "S + D Ly hôn- vắng mặt bị đơn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Bàn Tòn S (Bàn Văn N) được ly hôn chị Lý Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/10/2020
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thiên

2. Bà Nguyễn Hoàng Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 30 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 258/2020/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 8 năm 2020 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 9 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 9 năm 2020 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 07/2020/TB-TA, ngày 19 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Bàn Tòn S. Tên gọi khác: Bàn Văn N, sinh năm 1979. Có mặt

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái

2. Bị đơn: Chị Lý Thị D, sinh năm 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11-8-2020 bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ cùng lời khai tại phiên tòa nguyên đơn anh Bàn Tòn S trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Lý Thị D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 13 tháng 01 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nhiều lần vợ chồng cãi nhau nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, chị D thường xuyên bỏ nhà đi không quan tâm đến gia đình. Từ tháng 11 năm 2019 đến nay anh và chị D không sống cùng nhau nữa. Nay anh S xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lý Thị D.

Về nuôi con chung: Anh và chị Lý Thị D có 02 con chung các cháu là Bàn Hữu B, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006 và Bàn Hữu T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2010. Hiện nay hai cháu đang sống cùng anh S, anh S đề nghị Tòa án giải quyết được nuôi dưỡng hai cháu đến năm 18 tuổi và anh không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản và nợ chung: Anh và chị Lý Thị D tự thỏa thuận phân chia nên anh S không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Lý Thị D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu gì. Tại phiên tòa chị Lý Thị D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn chị Lý Thị D có hộ khẩu thường trú Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa bị đơn chị Lý Thị D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bàn Tòn S và chị Lý Thị D tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 13 tháng 01 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nhiều lần vợ chồng cãi nhau nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, chị D thường xuyên bỏ nhà đi không quan tâm đến gia đình những mâu thuẫn đó anh S và chị D đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Từ tháng 11 năm 2019 đến nay anh S và chị D không sống cùng nhau nữa và không còn quan tâm đến nhau.

Nay anh Bàn Tòn S xác định tình cảm vợ chồng đã hết. anh S đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lý Thị D. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo phiên hoà giải nhiều lần nhưng chị Lý Thị D đều cố tình lẩn tránh và vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Từ đó có căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa anh Bàn Tòn S và chị Lý Thị D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh S là có căn cứ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của anh Bàn Tòn S xử cho anh Bàn Tòn S được ly hôn chị Lý Thị D là có cơ sở.

Về nuôi con chung: Anh Bàn Tòn S và chị Lý Thị D có 02 con chung cháu Bàn Hữu B, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006 và cháu Bàn Hữu T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2010. Hiện nay hai cháu đang sống cùng anh S cuộc sống ổn định, các cháu đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết được ở cùng anh S, anh S có thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/01 tháng, chị Lý Thị D thường xuyên vắng mặt tại địa phương.

Từ những căn cứ nêu trên xét thấy đề nghị của anh Bàn Tòn S được nuôi dưỡng cháu B và cháu T là chính đáng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu do đó cần giao hai cháu cho anh S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Bàn Tòn S không yêu cầu chị Lý Thị D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Bàn Tòn S chưa đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Bàn Tòn S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Lý Thị D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. [7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Anh Bàn Tòn S (Bàn Văn N) được ly hôn chị Lý Thị D.

2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Bàn Tòn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bàn Hữu B, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006 và cháu Bàn Hữu T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2010 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Chị Lý Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lý Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Bàn Tòn S (Bàn Văn N) phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ạnh Sính đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2017/0003732, ngày 11-8- 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên (xác nhận anh S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm)

Án xử công khai sơ thẩm. Anh Bàn Tòn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lý Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ