vanban.org

Bản án 60/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Linh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2019/HSST
Ngày: 21 - 05 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Công Nhân;

2. Ông Nguyễn Hòa Bình.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 21/05/2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc L, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi đăng ký tạm trú: Số S, Phó Đức Chính, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Sống lang thang; Nghề nghiệp: Nguyên làm phụ buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Trần Văn L (Đã chết) và bà Lê Thị Th, sinh năm 1958; Chưa có vợ và có 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 100/2014/HSST ngày 28/8/2014 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” - Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2016; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2018, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Châu Đại N, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn T, xã Ea Sol, huyện Ea H-leo, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Ngọc L đã từng nghiện ma túy và đã cai được ma túy. Khoảng một tháng trước khi bị bắt bị cáo đi tiệc sinh nhật của bạn và được mời sử dụng ma túy, tại bữa tiệc bị cáo được bạn cho số điện thoại người đàn ông tên Trắng bán ma túy (Không rõ nhân thân lai lịch), bị cáo đã kết bạn với người đàn ông này qua mạng xã hội Zalo và đã mua trái phép ma túy của người đàn ông này được một lần vào tháng 11/2018 về sử dụng.

Tối ngày 13/12/2018 bị cáo tiếp tục liên lạc với người đàn ông qua mạng Zalo hỏi mua ma túy đá và người đàn ông này hẹn bị cáo ở trong hẻm 861 đường Trần Xuân Soạn để mua bán ma túy. Sau khi mua được 01 gói nylon chứa ma túy với giá 500.000 đồng, trên đường đi tìm quán Karaoke để sử dụng ma túy thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 7 tuần tra, phát hiện bắt quả tang Trần Ngọc L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần phía trước bên phải của L 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.

Vật chứng vụ án:

- 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong: Theo Kết luận giám định số 185/KLGĐ-H ngày 21/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Ngọc L và hình dấu của Công an phường Tân Hưng, Quận 7 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4092g (Không phẩy bốn không chín hai gam), loại Methamphetamine.

- 01 (Một) xe máy hiệu Yamaha Luvias màu đen, biển số 47D1 – 050.01. Theo Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 19/12/2018 của Công an Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe này do anh Châu Đại N đứng tên đăng ký. Tuy nhiên, anh N không còn ở địa phương nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Trần Ngọc L khai mua xe trên từ người bạn quen ngoài xã hội không rõ lai lịch.

- 01 Điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc, 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

Bản Cáo trạng số 69/CT-VKSQ7 ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Ngọc L tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Trần Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 và Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Ngọc L từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm tù và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Đối với vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy gói ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc, trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đen, biển số 47D1 – 050.01, quá thời hạn thông báo mà không tìm được người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, bị cáo chấp nhận mức án của Hội đồng xét xử áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có điều kiện để được về sớm lo cho mẹ già và con gái bị cáo vì vợ bị cáo đã bỏ con lại cho mẹ bị cáo nuôi con gái bị cáo từ lúc nhỏ, hiện nay vợ bị cáo ở đâu bị cáo không rõ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Bị cáo Trần Ngọc L đã có hành vi tàng trữ chất ma túy là Methamphetamine có khối lượng 0,4092g (Không phẩy bốn không chín hai gam), loại Methamphetamine, để sử dụng trái phép. Hành vi này của bị cáo Trần Ngọc L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Ngọc L là phù hợp, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

5 Bị cáo Trần Ngọc L có nhân thân đã bị kết án, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

6 Về vật chứng vụ án, Cơ quan công an thu giữ:

- 01 (Một) gói ma túy niêm phong: Đây là chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép để sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia: Không chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc: Bị cáo sử dụng kết bạn qua mạng Zalo và trao đổi việc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 (Một) xe máy hiệu Yamaha Luvias màu đen, biển số 47D1 – 050.01, số máy 44S1049756: Theo Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 19/12/2018 của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì xe này do anh Châu Đại N đứng tên đăng ký và theo kết quả trả lời xác minh của xã Ea Sol, huyện Ea H-leo, tỉnh Đắk Lắk thì anh N hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Bị cáo Trần Ngọc L khai mua xe trên từ người bạn quen ngoài xã hội không rõ lai lịch, không làm giấy tờ mua bán và bị cáo sử dụng xe đi mua trái phép ma túy về sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên và cho tới nay chưa tìm ra người quản lý hợp pháp của chiếc xe trên.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tiếp tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn nhất định để tìm người quản lý hợp pháp của xe máy hiệu Yamaha Luvias màu đen, biển số 47D1 – 050.01, số máy 44S1049756. Hết thời hạn thông báo mà vẫn không tìm được người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7 Đối với người đàn ông tên Trắng (Không rõ nhân thân lai lịch) - Bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

8 Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

9 Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2018.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói ma túy niêm phong;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc

- Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

- Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 (Ba mươi) ngày để tìm người quản lý hợp pháp 01 (Một) chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Luvias, loại xe hai bánh, màu đen, biển số 47D1 – 050.01, số máy 44S1049756. Trong thời hạn 30 (Ba mươi) ngày, kể từ ngày thông báo mà tìm được người quản lý hợp pháp thì trả lại xe. Hết thời hạn 30 (Ba mươi) ngày, kể từ ngày thông báo mà vẫn không tìm được người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 80 ngày 09/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Trần Ngọc L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ