vanban.org

Bản án 60/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Hồng H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2018. 2/ Xử phạt bị cáo Trần Hồng H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Hồng H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2019/HSST
Ngày: 19/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Võ Thị Hồng Vân – Hội phụ nữ phường Thới An

2/ Bà Nịnh Thị Tuyết Mai – Hội phụ nữ phường An Phú Đông

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm– Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2019/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/HSST-QĐ ngày 01/4/2019, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn C , Sinh ngày: 21/02/2000; Tại: TP. Hồ Chí Minh. HKTT: A, tổ 2, ấp 6, xã Xuân Thới S, huyện Hóc M, TP. Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không. Cha: Nguyễn Văn Th; Mẹ: Lý Thị Hạnh; hoàn C gia đình: Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giam từ ngày: 31/10/2018 - có mặt.

2/ Trần Hồng H , Sinh ngày: 22/6/2003; Tại: Tiền Giang. HKTT: Ấp Hiệp Th, xã Hiệp Đ, huyện Cai L, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: A, tổ 15, ấp Đ, xã Tân X, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Giữ xe. Cha: Trần Văn H, Mẹ: Trần Thị Hồng Th; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại - (có mặt).

*Người bị hại: Chị Dương Thị H , 1992

Trú tại: A, Ấp Tam Đ, xã Thới Tam T, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh - (vắng mặt).

Đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Hồng H : có bà Trần Thị Hồng Thủy (mẹ ruột)

Trú tại nhà trọ số A, đường Tân Hưng, ấp 4, xã Tân H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương– (có mặt).

Luật sư: Huỳnh Khắc Th- Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố Hồ Chí Minh – bào chữa cho bị cáo Trần Hồng H – (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết từ trước nên Nguyễn Văn C rủ Trần Hồng H đi cướp giật tài sản sản bán lấy tiền tiêu xài thì H đồng ý. Lúc 18 giờ 00 phút ngày 31 tháng 10 năm 2018, C điều khiển xe mô tô biển số 50Y1-074.27 chở H lưu thông trên đường Nguyễn Ảnh Thủ hướng từ Trung Chánh về chợ Hiệp Thành, Quận 12 để tìm người có tài sản. Khi đến ngã tư Nguyễn Ảnh Thủ giao với đường Tô Ký thì C phát hiện chị Dương Thị H đang điều khiển xe mô tô biển số 88K8-4918 chạy phía trước cùng chiều, trên tay trái đang cầm 01 chiếc điện thoại di động thì C báo cho H biết. Lúc này, C tiếp tục điều khiển xe mô tô bám sát phía sau. Khi thấy H dừng xe trước nhà số A6, tổ 6, khu phố 3, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 và dùng hai tay bấm điện thoại thì C liền điều khiển xe mô tô áp sát bên trái chị H để H bất ngờ dùng tay pH giật được chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi bị giật điện thoại, chị H điều khiển xe mô tô đuổi theo đến trước nhà số 160, tổ 3, khu phố 3, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 thì C để xe mô tô va chạm với xe mô tô của người đi đường (chưa rõ lai lịch) để phương tiện và người ngã xuống đường. Lúc này H truy hô, nên được quần chúng nhân dân bắt giữ C , H cùng tang vật giao cho Công an phường.

Ngoài ra, C và H còn khai nhận; Trước đó, vào ngày 25 tháng 10 và 27 tháng 10 năm 2018 đã cùng nhau cướp giật 02 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 và Samsung Galaxy J5 trên địa bàn huyện Hóc Môn. Sau đó, đem bán cho cửa hàng bán điện thoại di động Hoàng Phát tại xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn do Huỳnh Trung là chủ được 1.500.000 đồng tiêu xài hết. Sau đó, Trung đã bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy J5 cho người khách (không rõ lai lịch) được 900.000 đồng, Riêng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6, Trung còn cất giữ và đã giao nộp cho Công an Quận 12. Khi mua Trung không biết 02 chiếc điện thoại trên là tài sản do phạm tội mà có. Ông Nguyễn Văn Thanh và bà Lý Thị Hạnh là cha, mẹ của Nguyễn Văn C đã bồi thường cho cho anh Huỳnh Trung 1.500.000 đồng. Trung không có yêu cầu gì thêm.

Vật chứng và xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8 (Công an Quận 12 đã trả lại cho chủ sở hữu). Bl: 80.

- 01 xe mô tô biển số 50Y1-074.27, số khung: RLHJA3907HY111602, số máy: JASYE0111666 do C làm chủ sở hữu, 900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 (Bl: 82).

Bản cáo trạng số 60/CTr-VKS, ngày 21/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Hồng H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Hồng H khai nhận hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật 01 điện thoại di dộng Samsung Galaxy A8 của chị Dương Thị H rồi bỏ chạy, trên đường tẩu thoát va chạm bị té ngã, bị bắt cùng tang vật. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Hồng H phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn C với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù;

Bị cáo Trần Hồng H với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Hồng H không tranh luận về tội danh, luật sư đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo vì có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Do lười lao động, cần có tiền tiêu xài, Nguyễn Văn C rủ Trần Hồng H đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì H đồng ý. C điều khiển xe mô tô chở H tìm người có tài sản. Phát hiện chị Dương Thị H đang điều khiển xe mô tô chạy phía trước cùng chiều, trên tay trái đang cầm 01 chiếc điện thoại di động thì C báo cho H biết. Thấy chị H dừng xe dùng hai tay bấm điện thoại, C liền điều khiển xe mô tô áp sát bên trái chị H để H bất ngờ dùng tay pH giật được chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Chị H truy hô đuổi theo, trên đường tẩu thoát, C để xe mô tô va chạm với xe mô tô của người đi đường để phương tiện và người ngã xuống đường, chị H cùng quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho Công an phường lập biên bản.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn C và Trần Hồng H đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Theo Kết luận định giá số 515/KL ngày 08 tháng 11 năm 2018 xác định: Chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8 có giá trị 7.600.000 đồng.

Xét thấy, bị cáo C và H đã sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội, lợi dụng sự sơ hở của người có tài sản chiếm đoạt bằng cách giằng giật lấy rồi nhanh chóng tẩu thoát. Với hành vi như đã nêu trên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự truy tố bị cáo C , H là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây nguy hiểm cho người đang tham gia giao thông, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Nguyễn Văn C là người rủ Trần Hồng H tham gia cướp giật, bị cáo H khi phạm tội 15 tuổi 4 tháng 09 ngày. Bị cáo C pH chịu thêm tình tiết tăng nặng o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Ngoài ra trước đó các ngày 25/10/2018 và 27/10/2018, C điều khiển xe mô tô chở H đã thực hiện 02 hành vi cướp giật điện thoại trên địa bàn huyện Hóc Môn Các bị cáo trong thời gian ngắn thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở hai địa điểm khác nhau, điều này cho thấy các bị cáo hành động rất liều lĩnh. Do đó, cần pH áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo pH có tác dụng cải tạo và giáo dục các bị cáo, đồng thời làm gương cho những người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa tiền án, tiền sự; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; bị cáo H phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi….để áp dụng các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo; bị cáo H được áp dụng thêm Điều 91 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo pH chịu.

Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người bị rủ rê. Phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, khả năng nhận thức còn hạn chế, gia đình hiện nay có hoàn C khó khăn- cha mẹ ly hôn, cả hai đã lập gia đình mới. Bị cáo đang ở với cha, có công việc ổn định (giữ xe siêu thị), trong thời gian được tại ngoại không vi phạm gì. Hội đồng xét xử nhận thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát và luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

+ Người bị hại đã nhận được lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét.

+ Đối với cá nhân Huỳnh Trung đã mua điện thoại của các bị cáo nhưng không biết cá điện thoại trên là do các bị cáo phạm tội. Cha, mẹ của bị cáo C là ông Nguyễn Văn Thanh và bà Lý Thị Hạnh đã bồi thường cho cho anh Huỳnh Trung 1.500.000 đồng, Trung không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với 01 xe mô tô biển số 50Y1-074.27, số khung: RLHJA3907HY111602, số máy: JASYE0111666 do C làm chủ sở hữu, bị cáo C dùng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.

+ Đối với 900.000 đồng, là số tiền còn lại do các bị cáo bán các điện thoại cướp giật được, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 liên quan đến hành vi Nguyễn Văn C và Trần Hồng H cùng nhau cướp giật trên địa bàn huyện Hóc Môn. Cần giao điện thoại di động trên cho Công an huyện Hóc Môn xác minh làm rõ xử lý theo thẩm quyền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Hồng H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

1/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2018.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 7 Điều 91; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

2/ Xử phạt bị cáo Trần Hồng H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Hồng H cho Ủy ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó pH chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

+ 01 xe mô tô biển số 50Y1-074.27, số khung: RLHJA3907HY111602, số máy: JASYE0111666;

+ 900.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.

- Chuyển giao cho Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6; số Imei: 359 303 062 146 340.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 57/QĐ-VKS ngày 21/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo H , luật sư bào chữa cho bị cáo H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(đã giải thích chế định án treo cho bị cáo H )

Cỡ chữ