- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn C và đồng phạm phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phùng Văn C, Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2019/HS-ST Ngày 26 tháng 7 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Sơn
Ông Dương Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Phùng Văn C, sinh năm 1977 tại Thành phố H Chí Minh; Tên gọi khác: Phục; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ 5, ấp 3, xã M1, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng A C1, sinh năm 1960; Con bà Sỳ Sy M, sinh năm 1957; Chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 12/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, theo Bản án số 60/2018/HSST.
Tiền sự: không.
Về nhân thân: Ngày 05/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Dâm ô với trẻ em”, theo bản án số 07/2005/HSST. Chấp hành xong bản án ngày 13/9/2006.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2019, đến ngày 15/3/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: Đạt; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn 3, xã B1, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965; Con bà Lê Thị M2, sinh năm 1968; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2019, đến ngày 15/3/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
3. Họ và tên: Trần Đ, sinh năm 1995 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ 9, ấp Vĩnh An, xã N, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm cá; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần S sinh năm 1940, con bà Văn Thị C2 sinh năm 1952; Có vợ là Nguyễn Thị T1 sinh năm 1999 và có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2019, đến ngày 13/3/2019 được hủy bỏ tạm giữ; ngày 15/3/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
4. Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm 1968 tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ 9, ấp Vĩnh An, xã N, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.; Nghề nghiệp: Làm cá; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T2 (đã chết); Con bà Huỳnh Thị N1 (đã chết); Cợ vợ là Trương Thị L1 sinh năm 1979; Có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2019, đến ngày 13/3/2019 được hủy bỏ tạm giữ; ngày 15/3/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 08/3/2019, tại khu vực bờ sông N thuộc tổ 9, ấp Vĩnh An, xã N, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an huyện Định Quán kết hợp cùng Công an xã N đã bắt quả tang các bị cáo: Phùng Văn C, Trần Đ, Lê Văn T và Nguyễn Văn H đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Xóc đĩa” (ngoài ra, có một số đối tượng khác có tham gia đánh bạc nhưng đã chạy thoát).
Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Do biết tại khu vực bờ sông N ở tổ 9, ấp Vĩnh An, xã N, huyện Định Quán có đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền nên vào khoảng 22 giờ ngày 07/3/2019, Phùng Văn C, Trần Đ, Lê Văn T và Nguyễn Văn H đi đến địa điểm trên để chơi đánh bạc. Khi đến địa điểm trên, thấy đang có khoảng 10 người đang chơi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Xóc đĩa” nên C, Đ, T và H vào tham gia đánh bạc.
Hình thức chơi “Xóc đĩa” như sau: các đối tượng sử dụng 01 cái chén nhựa, 1 cái đĩa nhựa, 04 con vị hình tròn, 01 cái mền làm công cụ để chơi “Xóc đĩa”. Người làm cái bỏ 04 con vị này vào 01 đĩa nhựa và đậy kín bằng 01 chén nhựa rồi tiến hành xóc. Sau khi xóc xong, các người chơi khác có thể tùy ý đặt vào cửa lẻ hoặc chẵn với số tiền đặt cược trong mỗi ván là từ 10.000 đồng đến 300.000 đồng. Sau khi đặt xong, người làm cái sẽ mở chén để xem kết quả thắng thua. Nếu có 01 đồng vị úp, 03 đồng vị ngửa hoặc 03 đồng vị úp hoặc 03 đồng vị ngửa thì là lẻ, ngoài ra là chẵn. Nếu người chơi nào đặt cược trùng với kết quả khi người làm cái mở chén thì người làm cái cái phải chung đủ cho người chơi số tiền đã đặt cược trước đó và ngược lại thì người làm cái sẽ ăn đủ số tiền người chơi đã đặt cược nếu như người chơi đặt sai với kết quả mở chén. Quá trình đánh bạc, chỉ có C tham gia làm cái; còn Đ, T và H không tham gia làm cái.
Nguyễn Văn H mang theo số tiền 4.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H thua 500.000 đồng.
Trần Đ mang theo 3.200.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Đ thắng 400.000 đồng.
Lê Văn T mang theo 300.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T thua 140.000 đồng.
Phùng Văn C mang theo 550.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc C thua hết 550.000 đồng.
Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc đánh bạc là 9.460.000 đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- Tiền mặt: 9.460.000 đồng, trong đó:
+ Thu tại chiếu bạc là 2.200.000 đồng.
+ Thu trong người Trần Đ là 3.600.000 đồng.
+ Thu trong người Lê Văn T là 160.000 đồng.
+ Thu trong người Nguyễn Văn H là 3.500.000 đồng.
- 01 bộ “Xóc đĩa” gồm: 01 chén nhựa, 01 đĩa nhựa, 04 con vị, 01 cái mền và 01 cái đèn tự chế.
- 04 điện thoại di động các loại.
Tại cáo trạng số 58/CT-VKS.ĐQ ngày 03 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Phùng Văn C, Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đ diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Phùng Văn C, Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị:
Xử phạt bị cáo Phùng Văn C: Từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: Từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Đ: Từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T: Từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.460.000 đồng.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chén nhựa, 01 đĩa nhựa, 04 con vị, 01 cái mền và 01 cái đèn tự chế.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu, nhận thức được hành vi của mình là sai, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân và
Các bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt, riêng bị cáo Phùng Văn C xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong H sơ, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 08/3/2019, tại khu vực bờ sông N thuộc tổ 9, ấp Vĩnh An, xã N, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai các bị cáo: Phùng Văn C, Trần Đ, Lê Văn T và Nguyễn Văn H đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Xóc đĩa”, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.460.000 đồng. Hành vi đánh bạc bằng hình thức “Xóc đĩa” được thua bằng tiền với số tiền sử dụng đánh bạc 9.460.000 đồng của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Về tính chất của hành vi phạm tội: Vụ án các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ việc đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và vai trò của từng bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Phùng Văn C là người đã 02 lần phạm tội nên có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đối với bị cáo Phùng Văn C là người có 01 tiền án, cụ thể: Ngày 12/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, theo Bản án số 60/2018/HSST; chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” thuộc trường hợp quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên 03 bị cáo này được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phùng Văn C được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt cần áp dụng đối với các bị cáo cụ thể như sau:
Đối với bị cáo Phùng Văn C: Là người có nhân thân xấu, đã 02 lần phạm tội, trong đó có 01 lần phạm tội đánh bạc chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội; ngoài ra khi đánh bạc bị cáo là người làm cái, như vậy bị cáo đóng vai trò chính trong vụ án. Do đó nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T phạm tội lần đầu, số tiền đánh bạc không lớn, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với ba bị cáo mà nên áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên cần phải cá thể hóa hình phạt cho tương xứng với tính chất hành vi của từng bị cáo như sau: T sử dụng số tiền để đánh bạc ít nhất (300.000đ), Đ sử dụng số tiền để đánh bạc nhiều hơn T (3.200.000đ), H sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất so với hai bị cáo còn lại (4.000.000đ). Do vậy mức hình phạt áp dụng với ba bị cáo lần lượt là H mức hình phạt cao hơn so với hai bị cáo còn lại, sau đó đến Đ và mức hình phạt áp dụng với bị cáo T là thấp nhất.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 9.460.000 đồng thu giữ là công cụ, phương tiện phạm tội tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 chén nhựa, 01 đĩa nhựa, 04 con vị, 01 cái mền và 01 cái đèn tự chế là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 04 điện thoại di động thu giữ các bị cáo Phùng Văn C, Trần Đ, Lê Văn T và Nguyễn Văn H, quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Về vấn đề khác:
Đối với các đối tượng tham gia đánh bạc đã chạy thoát khi bắt quả tang, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Đề nghị của Đ diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình hình phạt áp dụng đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử; riêng mức hình phạt tiền áp dụng đối với bị cáo Đ, bị cáo T là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố các bị cáo Phùng Văn C, Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Phùng Văn C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi thời hạn bị tạm giữ từ ngày 08/3/2019 đến ngày 15/3/2019.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Xử phạt: Trần Đ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt: Lê Văn T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Căn cứ 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.460.000đ (Chín triệu bốn trăm sáu mươi ngàn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 chén nhựa, 01 đĩa nhựa, 04 con vị, 01 cái mền, 01 cái đèn tự chế.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số 83/QĐ-VKS-HS ngày 03/7/2019; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/7/2019 và Biên lai thu tiền số 0002897 ngày 09/7/2019).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phùng Văn C, Nguyễn Văn H, Trần Đ, Lê Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Định Quán; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Định Quán; - Chi cục THADS huyện Định Quán; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu. | Phạm Ngọc Quyền |