- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2019/HS-ST Ngày: 26-04-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đức Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Hiền
2. Bà Nguyễn Thị Kim Nhung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 03 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Văn H, tên gọi khác: không, sinh năm 1968 tại thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: số A, đường D, phường B, quận Đ, thành phố Hồ Chí Minh; trú tại thôn Phước H, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 7/12; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Lê Thị D (đã chết); bị cáo chưa có vợ; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018; tạm giam ngày 21/12/2018 (Bị cáo cáo mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ Hải quan:
Ông Đinh Ngọc B, sinh năm 1996. Địa chỉ: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/12/2018 Đinh Ngọc B là đối tượng nghiện ma túy đến khu vực cổng Đình Thần tìm mua ma túy để sử dụng thì gặp Lê Văn H. B nói với H cần mua ma túy và đưa cho H 200.000 đồng để đi mua ma túy. H đồng ý, nhận tiền, cho B số điện thoại để tiện liên hệ và đi đến khu vực khu phố H, phường P, thị xã P tìm mua 01 gói ma túy đá của N (không rõ nhân thân lai lịch). Sau khi mua, H đem ma túy về khu vực nhà thờ Hải Sơn phân thành 02 gói nhỏ. Đến 12 giờ ngày 18/12/2018 H quay lại khu vực Đ để giao bán lại cho B 01 gói ma túy bị Công an xã Tân Hòa phối hợp với Công an thị trấn Phú Mỹ bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: 1 gói nylon hàn kín, bên trong chứa các hạt kết tinh không màu, trong suốt thu giữ trên tay Đinh Ngọc B; 1 gói nylon hàn kín, bên trong chứa các hạt kết tinh không màu, trong suốt thu giữ trong người Lê Văn H; 01 bộ dụng cụ phân ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Itel.
Tại bản kết luận giám định số 373/GĐMT-PC09 ngày 28/12/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh BR-VT kết luận:
1. Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín (số thứ tự 01), được niêm phong trong một phong bì màu trắng có hình dấu của Công an xã Tân Hòa-Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đặng Hoàng V, Lê Văn H, Đinh Ngọc B, Nguyễn Văn D, Trần Tiến T, Dương Văn T gửi đến giám định có trọng lượng là 0,0407 gram, là chất ma túy, loại Methaphetamine.
2. Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín (số thứ tự 02), được niêm phong trong một phong bì màu trắng có hình dấu và mẫu chữ ký như trên mục 1, gửi đến giám định có trọng lượng là 0,0380 gram, là chất ma túy, loại Methaphetamine.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Đối với đối tượng tên N bán ma túy cho H, Cơ quan điều tra đang xác minh lai lịch nhân thân. Khi xác minh được sẽ xử lý sau.
Đối với Đinh Ngọc B có hành vi mua trái phép chất ma túy của H về sử dụng do chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 1.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 bì thư niêm phong đề số 373/1, 373/2 ngày 28/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định, trên bì có chữ ký của giám định viên Võ Thanh Hoài, phó trưởng phòng Lê Bá Hiền, mộc dấu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;, 01 bộ dụng cụ phân ma túy, 01 điện thoại di động Itel màu đen đỏ, có pin, có sim nhưng không hoạt động được.
Toàn bộ vật chứng này hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/03/2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo và lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hành vi của bị cáo .
Bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 26-03-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố Lê Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tiêu hủy 02 bì thư niêm phong đề số 373/1, 373/2 ngày 28/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định, trên bì có chữ ký của giám định viên Võ Thanh Hoài, phó trưởng phòng Lê Bá Hiền, mộc dấu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu và 01 bộ dụng cụ phân ma túy; sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Itel màu đen đỏ, có pin, có sim nhưng không hoạt động được.
Toàn bộ vật chứng này hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/03/2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo H đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tổng hợp với Đinh Ngọc B tại khu vực Đ thuộc thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Giá trị hai bên giao dịch là 200.000 đồng.
Như vậy, hành vi H mua ma túy tổng hợp và bán cho Báu đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bị cáo H rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền độc quyền mua bán chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Đối với bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo H không có tiền án, tiền sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự: không có nên không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung.
.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tiêu hủy 02 bì thư niêm phong đề số 373/1, 373/2 ngày 28/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định, trên bì có chữ ký của giám định viên Võ Thanh Hoài, phó trưởng phòng Lê Bá Hiền, mộc dấu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và 01 bộ dụng cụ phân ma túy; sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Itel màu đen đỏ, có pin, có sim nhưng không hoạt động được.
Toàn bộ vật chứng này hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/03/2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là: 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2018.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tiêu hủy 02 bì thư niêm phong đề số 373/1, 373/2 ngày 28/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định, trên bì có chữ ký của giám định viên Võ Thanh Hoài, phó trưởng phòng Lê Bá Hiền, mộc dấu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và 01 bộ dụng cụ phân ma túy; sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Itel màu đen đỏ, có pin, có sim nhưng không hoạt động được.
Toàn bộ vật chứng này hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/03/2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự khác có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG T Ử
TH M
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TH M PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Đức Hào |