- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phương T và đồng bọn phạm tội: "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ! !!!!!!TỈNH!HÀ!NAM! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2019/HS-ST Ngày 31-05-2019 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!-!TỈNH!HÀ!NAM!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Chí Trung.
2. Bà Đoàn Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2019/TLST-HS ngày 17/04/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HS ngày 10/05/2019 đối với các bị cáo:
1. Trần Phương T, sinh năm 1983 tại Hà Nam; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ 1, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân V và bà Phạm Thị C; có chồng là Phạm Văn T, sinh năm 1985 và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/01/2017 Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc”; bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/02/2019 đến ngày 01/03/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/03/2019 đến nay; có mặt.
2. Hoàng Thị Ngọc T, sinh năm 1986 tại Quảng Bình; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn T, thị trấn K, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P và bà Hoàng Thị A; có chồng là Đinh Trọng T, sinh năm 1987 và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Lê Thị H, sinh năm 1982 tại Hà Nam; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn B, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quý N (đã chết) và bà Phạm Thị X; có chồng là Trần Văn T, sinh năm 1981 và 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2019 đến ngày 01/03/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/03/2019 đến nay; có mặt.
4. Lại Thị Phương H, sinh năm 1984 tại Hà Nam; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn B, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn D và bà Lê Thị B; có chồng là Trần Hùng M, sinh năm 1982 và 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2019 đến ngày 01/03/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/03/2019 đến nay; có mặt.
5. Lê Thị Thanh M, sinh năm 1981 tại Hà Nam; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ 1, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Lê Thị D; có chồng là Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974 và 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2019 đến ngày 01/03/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/03/2019 đến nay; có mặt.
6. Đinh Thị V, sinh năm 1988 tại Hà Nam; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn T2, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Hoàng Văn T, sinh năm 1985 và 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2019 đến ngày 01/03/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/03/2019 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Trọng T, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số 10, tổ N, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/02/2019, Lại Thị Phương H (Phương H) và Lê Thị H đi đến quán Thanh Vân Nail của Trần Phương T (Phương T) ở tổ 1, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam chơi, tại đây khi Phương H, H và Phương T đang ngồi nói chuyện thì Hoàng Thị Ngọc T (Ngọc T) đến. Lúc này Phương T nói: “Có làm tý cho vui không?” thì Phương H, H và Ngọc T hiểu ý Phương T muốn rủ chơi bài ăn tiền nên đồng ý. Sau đó, Phương H, H và Ngọc T ngồi xuống phản, còn Phương T lấy một bộ bài tú lơ khơ có sẵn mang ra, cả bốn người thống nhất chơi bài ăn tiền dưới hình thức đánh “Lốc’. Trong khi Phương H, H, Ngọc T và Phương T đang đánh bạc thì Lê Thị Thanh M đi đến và ngồi xuống tham gia cùng Phương H, H, Ngọc T và Phương T đánh bạc ăn tiền. Một lúc sau Phương T thua hết tiền nên đứng dậy không chơi nữa thì Đinh Thị V đi đến, tham gia đánh bạc cùng Phương H, H, Ngọc T và M. Đến 16 giờ cùng ngày, các đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức chơi “Lốc” được thua bằng tiền bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
* Thu giữ trên phản các đối tượng ngồi đánh bạc 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân có hoa văn màu trắng, xanh và số tiền 4.414.000 đồng;
* Tạm giữ của các đối tượng tham gia đánh bạc:
- Tạm giữ của Hoàng Thị Ngọc T số tiền 13.040.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen.
- Tạm giữ của Lại Thị Phương H số tiền 1.263.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 màu trắng.
- Tạm giữ của Lê Thị Thanh M số tiền 3.100.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng.
- Tạm giữ của Lê Thị H số tiền 1.100.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107 màu đen.
- Tạm giữ của Đinh Thị V số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 Plus màu đen.
Quy luật chơi và tỷ lệ được thua được các đối tượng thỏa thuận như sau:
Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài được ký hiệu từ A (át), 2, 3...đến K và các chất rô, cơ, bích, tép. Bài được chia đều cho người chơi mỗi người 10 lá, ván đầu tiên ai là người chia bài được đánh trước, các ván tiếp theo ai thắng được đánh trước. Khi chơi, người chơi có thể đánh bài “lẻ” nghĩa là các lá bài lẻ không nằm trong bộ nào trong đó lá bài 3 là nhỏ nhất và lá bài 2 là lớn nhất; hoặc đánh bộ “đôi” nghĩa là bộ gồm hai lá bài cùng số ví dụ 66, trong đó đôi 3 là bé nhất, đôi 2 là lớn nhất; hoặc đánh bộ “sáp” nghĩa là bộ gồm ba lá bài cùng số ví dụ 333 trong đó “sáp” 3 là bé nhất, “sáp” 2 là lớn nhất; hoặc đánh “tứ quý” nghĩa là có bốn lá bài cùng số ví dụ 5555, trong đó “tứ quý” 3 là nhỏ nhất, “tứ quý” 2 là lớn nhất, mỗi “tứ quý” bất kỳ có thể chặn được một lá bài 2; hoặc đánh bộ “sảnh” nghĩa là bộ có từ ba lá bài liền nhau trở lên, trong đó “sảnh” Q, K, A là lớn nhất. Người đánh sau phải đánh bài lẻ, bộ đôi, bộ sáp, bộ sảnh tương ứng phải lớn hơn người đánh trước. Người nào đánh hết bài trước thì thắng, những người còn lại thua tiền tương ứng với số lá bài còn cầm trên tay là 5.000 đồng/lá bài. Khi chơi người nào có “sảnh” 10 lá bài liền nhau hoặc “tứ quý” 2 hoặc có 05 “đôi” thì được “ăn trắng”, được thu của mỗi người chơi khác cùng số tiền là 100.000 đồng. Nếu người chơi nào đánh lá bài 2 bị người có “tứ quý” chặn thì mất số tiền là 100.000 đồng. Nếu trong quá trình ván chơi, người chơi nào không đánh được cây nào thì bị “cháy” và phải mất số tiền cho người thắng là 75.000 đồng. Nếu “xin lốc” hay còn gọi là “cướp cái” nghĩa là sau khi chia bài, người chơi nào xem bài, cảm thấy không ai có thể chặn được bài của mình để về nhất thì có thể “xin lốc”, khi đó người chơi này có quyền được đánh trước và đánh bài lần lượt để những người khác chặn, nếu thành công thì sẽ về nhất và được “ăn” của những người chơi là 100.000 đồng, còn nếu “xin lốc” bị thất bại thì sẽ phải “đền làng” và trả cho người “bắt lốc” tức là người chặn được bài số tiền 800.000 đồng. Khi chỉ còn một lá bài trên tay thì người chơi phải “báo” cho những người cùng chơi biết, lúc này người ngồi trước người vừa “báo” (người giữ cửa) sẽ chặn mọi quân bài để không cho người “báo” về nhất bằng các quân bài mình có, nếu người giữ cửa không chặn được để người “báo” về nhất thì phải đền với mức đền được tính bằng tổng số lá bài của tất cả các người chơi còn lại. Mỗi ván có “xin lốc’ thành công, người “xin lốc” phải trích lại số tiền 20.000 đồng để mua hoa quả, nước uống.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định ngoài số tiền 4.414.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc, Lê Thị Thanh M đã sử dụng số tiền 3.100.000 đồng, Lại Thị Phương H sử dụng số tiền 1.263.000 đồng, Lê Thị H sử dụng số tiền 1.100.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị Thanh M, Lê Thị H và Đinh Thị V đã sử dụng để đánh bạc là 9.877.000 đồng. Tổng số tiền Trần Phương T, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị Thanh M và Lê Thị H đã sử dụng để đánh bạc là 9.540.000 đồng.
Xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, số tiền 4.414.000 đồng có trên chiếu bạc, số tiền 3.100.000 đồng của Lê Thị Thanh M, 1.263.000 đồng của Lại Thị Phương H và 1.100.000 đồng của Lê Thị H là công cụ, phương tiện và số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc.
- Cơ quan điều tra đã xác định các tài sản, đồ vật gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S tạm giữ của Lê Thị Thanh M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và số tiền 13.040.000 đồng thu giữ của Hoàng Thị Ngọc T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 Plus và số tiền 2.500.000 đồng thu giữ của Đinh Thị V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 thu giữ của Lại Thị Phương H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107 thu giữ của Lê Thị H không liên quan đến các hành vi phạm tội trong vụ án, là tài sản hợp pháp của các bị cáo nên đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản nêu trên cho các bị cáo.
Trong quá trình điều tra đã xác định Phạm Văn T (chồng của bị cáo Trần Phương T) là chủ nhà nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc do không có mặt ở nhà, không biết các bị cáo sử dụng nhà ở của mình để đánh bạc nên không đồng phạm với các bị cáo trong vụ án.
Bản Cáo trạng số 60/CT-VKS-PL ngày 16/04/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321, Điều 17, Điều 35, Điều 50, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với chung các bị cáo; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M và Hoàng Thị Ngọc T:
- Về hình phạt chính:
+ Xử phạt bị cáo Trần Phương T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
+ Xử phạt các bị cáo Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Hình phạt bổ sung: Phạt mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 25/02/2019, tại nhà của Trần Phương T thuộc tổ 1, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V bị Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi “Lốc” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.877.000 đồng. Mở rộng điều tra xác định trước đó trong cùng ngày 25/02/2019, Trần Phương T đã cùng Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị Thanh M và Lê Thị H đã đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi “Lốc” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.540.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, vị trí, vai trò, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Trong vụ án, các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Phương T đã từng bị xử phạt hành chính hình thức phạt tiền về hành vi: “Đánh bạc” (nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính tính đến ngày phạm tội quá 06 tháng). Các bị cáo khác còn lại gồm Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V đều lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt.
Về vị trí, vai trò, mức độ phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, thực hiện tội phạm một cách tự phát, không có bị cáo nào là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, có tổ chức. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội từng bị cáo đã thực hiện thấy Trần Phương T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội (bài tú lơ khơ) và sử dụng địa điểm ngay nơi ở của mình trực tiếp cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc nên bị cáo là người giữ vai trò chính, phải chịu mức hình phạt cao nhất. Các bị cáo khác còn lại đều tích cực hưởng ứng, thực hiện hành vi đánh bạc với mức độ phạm tội khác nhau, cùng giữ vai trò thứ hai và phải chịu mức hình phạt tương ứng mức độ phạm tội đã thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều đã đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Trần Phương T có người thân là người có công với đất nước và có thành tích trong công tác được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Chính quyền cơ sở tặng giấy khen. Vì vậy, các bị cáo sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự, đời sống xã hội tại địa phương, là tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, các chuẩn mực xã hội và mầm mống, nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm minh, phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, vị trí, vai trò và nhân thân từng bị cáo trong vụ án mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên cũng xét thấy các bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian sinh sống tại địa phương luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú nên sẽ không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa phương nơi cư trú là phù hợp, không gây nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi, sát phạt nhau để thu lợi bất chính. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo bằng hình thức phạt tiền là cần thiết, nhằm răn đe, giáo dục chung.
[6] Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
+ Đối với số tiền 9.877.000 đồng Ngân hàng nhà nước Việt Nam thu giữ của các bị cáo là tiền đã sử dụng vào mục đích để đánh bạc trái phép ngày 25/02/2019 nên sẽ tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
+ Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng sẽ tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
!
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự (đối với chung các bị cáo); khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M và Hoàng Thị Ngọc T):
* Tuyên bố các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V phạm tội: "Đánh bạc".
- Xử phạt bị cáo Trần Phương T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Xử phạt các bị cáo Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H và Lê Thị H mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Xử phạt các bị cáo Lê Thị Thanh M và Đinh Thị V mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Giao các bị cáo Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Trần Phương T và Lê Thị Thanh M cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Hoàng Thị Ngọc T cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 35 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt tiền các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.877.000 đồng Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Tịch thu, tiêu hủy 01(một) bộ tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) cây đã qua sử dụng, mặt sau có in hoa văn màu xanh.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 16/04/2019, Ủy nhiệm chi số 22 lập ngày 24/04/2019.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Trần Phương T, Lê Thị Thanh M, Hoàng Thị Ngọc T, Lại Thị Phương H, Lê Thị H và Đinh Thị V mỗi người nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
!!!!!!
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; !!!!!!!!!! - VKSND thành phố Phủ Lý; - Công an thành phố Phủ Lý; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; ! - Các bị cáo; ! - Lưu hồ sơ. ! | !!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!(đã!ký)! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Lê!Thanh!Sơn! |