vanban.org

Bản án 60/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 28/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Trần Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma

Xử phạt: Bị cáo Đặng Trần Ph 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 29/3/2019 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Trần Ph, sinh năm 1991 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Trần Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 60/2019/HS-ST
Ngày: 28 / 8 / 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hùng;

2. Bà Trương Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đại Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu

Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

56/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số 61/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Đặng Trần Ph, sinh năm 1991, nơi cư trú: số 280, đường N, khóm G,

phường H, thành phố D, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn:

12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con

ông Đặng Trần Anh L và bà Huỳnh Thị Thanh V; anh, chị, em ruột: bị cáo là

người con duy nhất trong gia đình;

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 12/02/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh

An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc, thời gian 12 tháng, đến ngày 14/12/2018 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/3/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1965; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 27/02/2019, lực lượng Công an phường Châu Phú B,

thành phố Châu Đốc tiến hành kiểm tra nhà của Đặng Trần Ph (địa chỉ số 280, đường Thủ Khoa Huân, khóm Châu Long 4, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang), phát hiện Ph có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên mời Ph về trụ sở Công an phường làm việc. Tại đây, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bên trong bóp da màu nâu, ở phía sau túi quần Jean, bên trái của Ph có một bọc nylon trong suốt, hàn kín, một đầu có rãnh khóa, viền màu xanh, chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi vấn ma túy đá) nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản và niêm phong tang vật.

Kết luận giám định số 49/KLGT-PC09 ngày 05/3/2019 của Phòng kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang xác định mẫu gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1157 gam.

Ngày 18/3/2019, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc

đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Trần Ph.

Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS-CĐ ngày 16/7/2019 của Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Đặng Trần Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên

quan điểm truy tố bị cáo Đặng Trần Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo nội dung cáo trạng.

Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thành phàn lao

động nghèo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2

Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Trần Ph từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp nên không áp dụng hình

phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015

được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ và 01 bóp da màu nâu.

Đối với người thanh niên tên Hiếu (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy

cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Mặc dù, đã được Tòa án tống

đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người chứng

kiến Nguyễn Thanh D vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của người chứng

kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét

xử vắng mặt người tham gia tố tụng này.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố

tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Châu Đốc, Điều tra

viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực

hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu

nại nên về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,

Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của

pháp luật.

Về hành vi bị truy tố, bị cáo Đặng Trần Ph khai nhận, khoảng 06 giờ

ngày 27/02/2019, bị cáo đến khu vực đường Mương Thủy, khóm Châu Long 1,

phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc (đường vào nhà trọ Mỹ Hồng) gặp người

thanh niên tên Hiếu mua một bọc ma túy đá với giá 300.000 đồng, mục đích bị

cáo mua để sử dụng. Sau khi mang về nhà sử dụng được một ít, còn lại cất giấu

bên trong bóp da màu nâu đen, ở phía sau túi quần Jean bên trái. Đến 09 giờ

cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra và mời bị cáo về trụ sở làm việc. Khi

khám xét người bị cáo có cất giấu ma túy nên lực lượng Công an đã lập biên bản

phạm tội quả tang và niêm phong tang vật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá

trình điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27/02/2019, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 27/02/2019, Kết luận giám định về ma túy ngày 05/3/2019; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi cất giấu trái pháp luật chất ma túy với khối lượng 0,1157 gam; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, ma túy là chất gây nghiện,

là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng, mặc dù đã chấp hành xong nhưng bị cáo vẫn tiếp tục tiếp tục tái nghiện. Do đó, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian cai nghiện, cải tạo tốt, trở thành công dân có ích và đảm bảo tính răn đe, giáo dụng, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và

tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và là thành phần lao động nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không

có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì ghi vụ 49/KLGT-PC09 (MT) ngày

05/3/2019, bên ngoài có in hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Nguyễn Đăng Khoa, Ôn Văn Thuận, cùng lượng ma túy bên trong. Đây là vật cấm lưu hành nên xét tịch thu tiêu hủy.

- Đối với (01) một cái bóp màu nâu, không còn giá trị sử dụng nên xét

tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác, đối với người thanh niên tên Hiếu (không rõ họ

tên, địa chỉ) bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều

tra nên không đề cập xem xét trong vụ án.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000

đồng như theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đặng Trần Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Trần Ph 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 29/3/2019

(ngày hai mươi chín, tháng ba, năm hai nghìn không trăm mười chín).

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung

năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi Niêm phong vụ 49/KLGT-PC09

(MT) ngày 05/3/2019 bên ngoài có in hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ

Hà, Nguyễn Đăng Khoa, Ôn Văn Thuận cùng lượng ma túy bên trong; 01 cái

bóp màu nâu.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2019 giữa Cơ quan Cảnh

sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án Dân sự thành

phố Châu Đốc).

Áp dụng Điều 135, Điều 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12

năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đặng Trần Ph phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu

cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ