vanban.org

Bản án 60/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Th ph¹m téi "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Th 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 16/10/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Th ph¹m téi "Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:60/2019/HS-ST
Ngày 29/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ

Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở

Ông Nguyễn Phước Khánh

Thƣ ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm - Kiểm sát viên

Hôm nay ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Th S, tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân huyện Th S xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2019/HSST ngày 14/11/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61 /QĐ -TA ngày 18/11/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình Th (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 13 tháng 02 năm 1981 tại Th S, Phú Thọ; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Phố T T, thị trấn Th S, huyện Th S, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Phố Kh, thị trấn Th S, huyện Th S, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Đoàn thể: Quần chúng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Đình Th (Đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị M (Đã chết); Vợ, Con: chưa có;

Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 46, ngày 21/9/2017 Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 06/4/2019 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 311/GCN ngày 06/4/2019 của Trại giam Tân Lập.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/10/2019 đến ngày 19/10/2019 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Văn K, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Khu 2, xã C Th, huyện Th S, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

Néi dung vô ¸n

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 50 ngày 16/10/2019 tại phố Kh, thị trấn Th S, huyện Th S, Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang Nguyễn Đình Th đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Văn K. Thu giữ của Nguyễn Đình Th: Hai tờ tiền VNĐ mệnh gián 100.000đ, Thời khai số tiền này do vừa bán ma túy cho K có được; 01 ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng có số sim: 0962.334.174, Thời khai sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với K trước khi bị bắt; 02 gói giấy trong đó có một gói mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, 01 gói giấy có hai mặt màu trắng đều có dòng kẻ mặt ngoài của gói giấy có chữ viết bằng mực màu đen. Thời tự khai là Heroin, mục đích để sử dụng và ai hỏi mua thì bán. Thu giữ của Đoàn Văn K: 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng có dòng kẻ màu đỏ, chữ viết số bằng mực màu xanh mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng (Bì số 02), Kim khai là Heroine vừa mua của Nguyễn Đình Th với giá 200.000đ để sử dụng; 01 ĐTDĐ Nokia 1208 màu xám, viền đen đã qua sử dụng có số sim: 0345.528.493, K khai sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Th trước khi bị bắt. Công an huyện Th S đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng, đồng thời đưa Th và K về trụ sở Công an huyện Thanh Sơn làm việc.

Cùng ngày, cơ quan CSĐT - Công an huyện Th S tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Đình Th tại phố K, thị trấn Th S, huyện Th S. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Th và K khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 15/10/2019, Thời đi xe ô tô khách từ thị trấn Th S, huyện th S đến đầu cầu Tr H thuộc huyện B V, thành phố Hà Nội mục đích tìm mua ma túy. Khi đến nơi Th xuống xe , tại đây Th tình cờ gặp một nam thanh niên khoảng 35 tuổi không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ đứng ở lề đường. Trong khi nói chuyện Th biết người nam thanh niên này có sử dụng ma túy và có ma túy bán nên Th hỏi mua 500.000 đồng, người nam thanh niên này đồng ý. Sau đó Th đưa cho người nam thanh niên số tiền 500.000 đồng, người nam thanh niên bán lại cho Th một gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, Th bắt xe ô tô khách về thị trấn Th S và lấy gói ma túy vừa mua được chia thêm thành 03 gói nhỏ, một gói đã sử dụng hết. Khoảng 11 giờ 10 ngày 16/10/2019, khi K đang ở thị trấn Th S, huyện Th S do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K đã gọi điện thoại cho Th. Lúc này Thđang ở phố K, thị trấn Th S, huyện Th S thì nhận được điện thoại của K gọi điện đến hỏi Th có Heroine không để cho 200.000 đồng để sử dụng. Vì sẵn có ma túy nên Th đồng ý và hẹn gặp K ở phố K, thị trấn Th S để mua bán ma túy. Sau đó K đi bộ xuống phố K, thị trấn Th S gặp Th. Khi gặp nhau K đưa cho Th số tiền 200.000 đồng, Th cầm tiền và đưa cho K 01 gói ma túy. Khi Th và K đang mua bán ma túy thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Ngày 16/10/2019 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Th S đã yêu cầu phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định: Chất bột cục màu trắng có trong 02 gói giấy thu giữ của Nguyễn Đình Th (Bì số 01); Chất bột cục màu trắng có trong 01 gói giấy thu giữ của Đoàn Văn K (Bì số 02). Tại bản KLGĐ số 1237/KLGĐ ngày 19/10/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu chất bột cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy (bì số 01) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,166 gam, loại: Heroine.

Mẫu chất bột cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy (bì số 02) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,020 gam, loại: Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ngày 19/10/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Th S quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình Th về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Văn K như đã nêu trên. Thời khai mục đích bán ma túy cho K để lấy tiền tiếp tục đi mua ma túy để sử dụng. K khai mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân do K nghiện ma túy.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th S giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự năm 2015;

Xö ph¹t: Nguyễn Đình Th 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 16/10/2019. MiÔn ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung là hình phạt tiền ®èi víi bÞ c¸o Nguyễn Đình Th.

* Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Ma túy là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy hoàn trả sau giám định được đựng trong bì số 01 và bì số 02.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ, là số tiền Th bán ma túy cho K có được.

Bán sung quỹ Nhà nước: 01 ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình Th và 01 ĐTDĐ Nokia 1208 màu xám, viền đen đã qua sử dụng thu giữ của Đoàn Văn K.

Tiêu hủy số sim: 0962.334.174 của Nguyễn Đình Th và số sim: 0345.528.493 thu giữ của Đoàn Văn K.

Bị cáo Th không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Th S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Th S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện gia đình người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng là đúng, không có gì oan sai. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 16/10/2019 tại phố K, thị trấn T S, huyện Th S, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đình Th đã có hành vi bán trái phép 0,020 gam Heroine cho Đoàn Văn K với giá 200.000 đồng và tàng trữ 0,166 gam Heroine mục đích để sử dụng và nếu ai hỏi mua thì bán lấy tiền để tiếp tục mua ma túy về sử dụng. Hành vi phạm tội của Nguyễn Đình Th đã bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện Th S bắt quả tang, thu giữ đầy đủ vật chứng. Hành vi nêu trên của Nguyễn Đình Th đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th S truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm gia tăng người nghiện các chất ma túy trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người và từ ma túy đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Th chấp hành xong thời hạn tù về địa phương từ ngày 06/4/2019 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 – Bộ Luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qu¸ tr×nh ®iÒu tra còng nh t¹i phiªn tßa h«m nay bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o, tá ra ¨n n¨n hèi c¶i nªn bÞ c¸o ® îc h ëng mét t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù ® îc quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51 – Bé luËt h×nh sù.

Bị cáo Nguyễn Đình Th được sinh ra trong gia đình cơ bản, đang trong độ tuổi lao động, có sức khỏe nhưng bị cáo không tu chí làm ăn, không làm chủ được bản thân đã mắc nghiện ma túy. Bị cáo đã có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, đã từng bị cách ly khỏi đời sống xã hội trong thời gian dài nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, để có tiền mua ma túy sử dụng bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy kiếm lời. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng so với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cải tạo và tu dưỡng bản thân, có như vậy bị cáo mới có thể nhận ra sai lầm của mình, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 5 §iÒu 251 Bé luËt h×nh sù th× bÞ c¸o cßn cã thÓ ph¶i chÞu h×nh ph¹t bæ sung lµ hình phạt tiền, tuy nhiên quá trình điều tra xác minh bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo lµ phï hîp .

. Về vật chứng vụ án:

Ma túy là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy hoàn trả sau giám định được đựng trong bì số 01 và bì số 02.

Số tiền 200.000đ là tiền Th bán ma túy cho K có được nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 chiếc ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình Th; 01chiếc ĐTDĐ Nokia 1208 màu xám, viền đen đã qua sử dụng thu giữ của Đoàn Văn K là để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 02 sim điện thoại: số sim 0962.334.174 thu giữ của Nguyễn Đình Th và sim số 0345.528.493 thu giữ của Đoàn Văn K cần tịch thu tiêu hủy.

. Về nguồn gốc số ma túy Heroine Nguyễn Đình Th bán cho Đoàn Văn K và số bị thu giữ trên người ngày 16/10/2019, Thời khai sáng ngày 15/10/2019 mua của một nam thanh niên không biết tên, địa chỉ ở đầu cầu Tr H thuộc địa phận huyện B V, thành phố Hà Nội với giá với giá 500.000 đồng, đây là lần đầu tiên Th gặp người nam thanh niên này. Vì vậy không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ.

Đối với Đoàn Văn K là đối tượng nghiện ma túy. Qua xác minh K chưa có tiền án, tiền sự, mục đích K mua ma túy Heroine của Th để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy Heroine Kim mua dưới 0,10 gam chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Th S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đoàn Văn K về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, khoản 2, điều 21 Nghị định 167 của Chính phủ với mức phạt 1.500.000đ là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Th ph¹m téi "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Th 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 16/10/2019.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Đình Th.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

+ Bán sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình Th; 01chiếc ĐTDĐ Nokia 1208 màu xám, viền đen đã qua sử dụng thu giữ của Đoàn Văn K.

+ Tịch thu tiêu hủy:

01 bì giấy số 1237/KLGĐ của phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ. Bì số 01 ghi: Trả lại 0,068 gam chất bột, cục màu trắng; cùng toàn bộ bao gói (bì niêm phong số 01) gửi đến giám định trong vụ Nguyễn Đình Th và Đoàn Văn K có hành mua bán trái phép chất ma túy ngày 16/10/2019. Mặt sau của bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán kín.

01 bì giấy số 1237/KLGĐ của phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ. Bì số 01 ghi: Trả lại 0,068 gam chất bột, cục màu trắng; cùng toàn bộ bao gói (bì niêm phong số 01) gửi đến giám định trong vụ Nguyễn Đình Th và Đoàn Văn K có hành mua bán trái phép chất ma túy ngày 16/10/2019. Mặt sau của bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán kín.

Và số sim 0962.334.174 thu giữ của Nguyễn Đình Th và số sim 0345.528.493 thu giữ của Đoàn Văn K.

Vật chứng là đồ vật đã được cơ quan Điều tra bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện Th S theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2019. Vật chứng là tiền ®ang ® îc t¹m gi÷ ë tµi kho¶n t¹m thu sè 3941.0.9044309.00000 t¹i kho b¹c huyÖn Th S, tØnh Phó Thä.

* Về án phí:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đình Th phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ