vanban.org

Bản án 60/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tài Q đối với bà Nguyễn Thị L về tranh chấp ly hôn.

Về hôn nhân: Ông Q được ly hôn với bà L. Về con chung: không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ ly hôn giữa Lê Tài Q- Nguyễn Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tài Q đối với bà Nguyễn Thị L về tranh chấp ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:60/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 28-8-2019
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân :2. Bà Nguyễn Thị Dạ Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Khổng Văn Đa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 136/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Tài Q, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. có mặt

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Tài Q trình bày:

Ông Q và bà L có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 28 ngày 28/11/1991. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có một con chung tên Lê Nguyễn Phương T, sinh năm 1992. Năm 2000 vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2000 đến nay. Mặc dù cả hai đã cố gắng kiềm chế nhưng không đạt kết quả, mâu thuẫn kéo dài. Thấy tình cảm không còn nữa, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể sống chung nên ông Q yêu cầu ly hôn với bà L, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung và nợ chung ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có bảng tường trình, không tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Tại phiên tòa, ông Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa ông Lê Tài Q với bà Nguyễn Thị L là tranh chấp ly hôn chịu sự điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án thông báo đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

Về yêu cầu khởi kiện của ông Q, xét thấy: Ông Q và bà L qua quen biết rồi tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại tại UBND xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 28 ngày 28/11/1991. Xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà L là hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của ông Q thì nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sống không hòa thuận với nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ năm 2000 cho đến nay. Mặc dù cả hai đã cố gắng kiềm chế nhưng không đạt kết quả, mâu thuẫn kéo dài, tình cảm không còn nữa, không thể hàn gắn, không thể sống chung nên ông Q yêu cầu ly hôn với bà L. Thời gian xảy ra mâu thuẫn đến nay thì hai bên không có thiện chí hàn gắn tình cảm với nhau. Bà L được thông báo đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ nhưng bà L không đến tham dự phiên hòa giải, không có mặt tại phiên tòa chứng tỏ bà L ông không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Thấy rằng, giữa ông bà tình cảm không còn đầm ấm nên ông Q yêu cầu ly hôn là phù hợp, nên căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho ly hôn. Về con chung, ông Q trình bày từ khi sống chung đến nay, bà L và ông Q có con chung tên Lê Nguyễn Phương T, sinh năm 1992, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Ông Q là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tài Q đối với bà Nguyễn Thị L về tranh chấp ly hôn.

Về hôn nhân: Ông Q được ly hôn với bà L.

Về con chung: không giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Tài Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001939 ngày 28/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

3. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ