- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị L xin ly hôn anh Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều L-nđ, sinh năm 1994 và anh Huỳnh Minh Đ-bđ, sinh năm 1993.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 60/2019/HNGĐ- ST Ngày: 08-11-2018 "Về việc ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình
Bà Đoàn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019, giữa các Đ-bđ sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều L-nđ, sinh năm 19994. Địa chỉ: ấp MG, xã VKĐ, huyện An Minh, Kiên Giang; Nơi cư trú hiện nay: ấp MĐ C, xã VK, huyện An Minh Kiên Giang. (có mặt)
Bị đơn: Anh Huỳnh Minh Đ-bđ, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp MG, xã VKĐ, huyện An Minh, Kiên Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 21-6-2019 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều L-nđ trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Đ-bđ được mai mối và gia đình 2 bên tổ chức lễ cưới vào ngày 01-11-2015. Sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã VKĐ, huyện An Minh vào ngày 04/11/2015. Vợ chồng sống chung đầm ấm một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Mâu thuẩn chủ yếu là do anh Đ-bđ nghe lời mẹ anh Đ-bđ, bắt chị phải đưa vàng, tiền cho bà. Chị L-nđ sống với anh Đ-bđ được khoảng 01 tháng, do chịu không nổi nên bỏ về nhà cha mẹ ruột chị sống (vào khoảng tháng 12/2015).
Về con chung: chưa có con chung. Về tài sản: không còn tài sản chung.
Chị L-nđ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ-bđ; về con chung, về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đ-bđ vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại biên bản xác minh ngày 14-10-2019, xác định được, nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn giữa chị L-nđ với anh Đ-bđ thì địa phương không nắm được nhưng thấy có cự cải do không cùng quan điểm.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; đối với các Đ-bđ sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay phía nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; phía bị đơn vắng mặt nên đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX cho chị L-nđ ly hôn với anh Đ-bđ; về con chung không có; tài sản và nợ không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đ-bđ đều vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Đ-bđ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đ-bđ.
[2] Về quan hệ hôn nhân, chị L-nđ với anh Đ-bđ chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã VKĐ, huyện An Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14-11-2015 nên là quan hệ hôn nhân
HNST số 60/2019-2
hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Chị L-nđ và anh Đ-bđ sống chung một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân là do anh, chị có nhiều bất đồng về quan điểm, không hòa hợp dẫn đến ly thân từ cuối năm 2015. Trong thời gian ly thân tương đối dài anh, chị chưa có những thay đổi, biện pháp tốt để đoàn tụ. Đồng thời khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị L-nđ thì anh Đ-bđ không có ý kiến hay động tác gì để hàn gắn mà bỏ mặc; khi Tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh Đ-bđ vắng mặt không tham dự. Việc anh Đ-bđ không có ý kiến khi nguyên đơn xin ly hôn, không tham dự phiên hòa giải, phiên tòa vừa vi phạm nghĩa vụ bị đơn vừa đánh mất cơ hội hòa giải đoàn tụ tại Tòa án. Từ đó cho thấy giữa anh Đ-bđ và chị L-nđ mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị L-nđ được ly hôn với anh Đ-bđ.
[4] Về con chung, anh chị chưa có con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị L-nđ không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
[6] Về án phí, nguyên đơn chị L-nđ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều L-nđ, sinh năm 1994 và anh Huỳnh Minh Đ-bđ, sinh năm 1993.
2. Về con chung: anh, chị chưa có con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
HNST số 60/2019-3
4. Về án phí, chị L-nđ chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0006453 ngày 19-7-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh. Chị L-nđ đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị L-nđ có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08-11-2019).
Anh Đ-bđ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Minh; - Chi cục THADS huyện An Minh; - Các Đ-bđ sự; - UBND xã VKĐ; - Lưu HS + VP. Lê Chí Công | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công HNST số 60/2019-4 |