- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ N - PHẠM VĂN L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2019/HNGĐ-ST Ngày: 03/10/2019. “V/v ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Nguyễn Ngọc Duyên.
2- Ông Bùi Minh Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đen, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 197/2019/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2019 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2019/QĐXX-ST, ngày 26 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1975 (có mặt).
2- Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh ngày 01/01/1977 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/3/2019 nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn L kết hôn với nhau năm 1992, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Đến ngày 20/12/2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống đến năm 2014 thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2014 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.
Về con chung: Có 02 người con tên Phạm Tuấn A, sinh ngày 02/10/1993 và Phạm Thị Trúc L, sinh ngày 16/9/2001,từ khi ly thân cho đến nay cháu L sống với chị và cuộc sống của các cháu cũng ổn định, chị cũng có điều kiện nuôi con. Nay chị yêu cầu xin được nuôi cháu Phạm Thị Trúc L và không yêu cầu anh L cấp dững nuôi con, còn cháu Phạm Tuấn A đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Chị thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đối với bị đơn anh Phạm Văn L Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị N.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Lê Thị N có ý kiến và yêu cầu như như sau.
Về hôn nhân: Chị yêu cầu xin được ly hôn với anh Phạm Văn L.
Về con chung: Chị thay đổi yêu cầu là do đến thời điểm xét xử cháu Phạm Thị Trúc L đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yệu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Lê Văn L vắng mặt.
Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luất.
Về giải quyết vụ án:
1. Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Lê Thị N, xử cho chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L được ly hôn.
2. Về con chung: Hiện nay các con đều trưởng thành và chị n không có yêu cầu nên không xem xét.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Thị N thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Phạm Văn L được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Văn L.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L kết hôn với nhau năm 1992 và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên hôn nhân của chị N và anh L là hợp pháp.
Về mâu thuẫn, là do vợ chồng thiếu tinh tưởng nhau dẫn đến hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau từ tháng 7/2014 cho đến nay. Từ khi ly thân cho đến nay anh L cũng quan tâm gì đến vợ con.
Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị N xử cho chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L có 02 người con tên Phạm Tuấn A, sinh ngày 02/10/1993 và Phạm Thị Trúc L, sinh ngày 16/9/2001. Hiện nay các cháu đã trưởng thành và chị không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Thị N thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy chị N đã nộp đủ tiền án phí.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L được ly hôn.
2. Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Phạm Văn L có 02 người con tên Phạm Tuấn A, sinh ngày 02/10/1993 và Phạm Thị Trúc L, sinh ngày 16/9/2001. Hiện nay các cháu đã trưởng thành và chị không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Thị N thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0001911, ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị N đã nộp đủ tiền án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị N có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/10/2019). Đối với anh L vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - THADS huyện An Biên; - UBND xã Đông Thái;. - Các đương sự; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Phạm Thanh Tâm |