- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2018/HS-ST Ngày 11/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Bình
Ông Huỳnh Lý Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa:
Ông Trần Văn Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Kiều Đức S; sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường L, Phường B, Quận MM, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giữ xe; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Đức T (chết) và bà Trần Thị B (chết); tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 25/9/1998 TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 497/HSST), ngày 25/01/2000 TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 342/HSST), ngày 14/12/2001 TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tổng hợp hình phạt với bản án số 342/HSTT ngày 25/01/2001 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị cáo phải chấp hành là 13 năm tù (Bản án số 54/HSS); bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/02/2018;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 25/02/2018, Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 11 tuần tra phát hiện Kiều Đức S điều khiển xe môtô hiệu Luvias biển số 59C2 – 481.57 đang dừng trước nhà đường H, Phường N, Quận 11 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ của S 01 bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 03 gói nylon nhỏ chứa tinh thể không màu để trong 01 gói nylon lớn, 01 điện thoại di động Iphone 7 màu trắng hồng, 01 xe môtô hiệu Luvias biển số: 59C2 – 481.57 và 01 bóp màu đen có 553.000 đồng. Công an Phường 5, Quận 11 lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Kiều Đức S chuyển Công an Quận 11 xử lý.
Theo kết luận giám định số 510/KLGĐ-H ngày 05/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu chưa trong 03 gói nylon đã thu giữ của S là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4501g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an Quận 11, bị cáo S khai nhận: S sử dụng và nghiện chất ma túy từ tháng 12/2017. Trước đó, S có đến điểm trò chơi bắn cá gần khu vực Đầm Sen chơi và biết được tên thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy. Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 25/02/2018, S điều khiển xe môtô Luvias biển số 59C2 – 481.57 đến hẻm 64 Hòa Bình, phường 5, Quận 11 thì gặp người nam thanh niên trên, lúc này S hỏi mua ma túy và đưa cho nam thanh niên này 300.000 đồng và nam thanh niên này quăng gói thuốc lá bên trong có 03 gói nylon chứa ma túy dưới đất, rồi bỏ đi. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu vào túi quần bên phải rồi chạy đến trước nhà số 66 đường Hòa Bình, Phường 5, Quận 11 thì công an Phường 5, Quận 11 bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 10 tháng 7 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Kiều Đức S tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Kiều Đức S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên trong có ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 510, 01 vỏ bao thuốc hiệu Jet; trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động Iphone 7 màu trắng hồng, 01 bóp màu đen và số tiền 553.000 đồng; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô hiệu Luvias biển số: 59C2 – 481.57.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 25/02/2018, tại trước nhà đường H, Phường N, Quận MM bị cáo Kiều Đức S đang cất giữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng 0,4501 g để sử dụng thì bị Công an Quận 11 bắt quả tang.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo Kiều Đức S đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói được niêm phong bên trong có ma túy nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 vỏ bao thuốc hiệu Jet không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động Iphone 7 màu trắng hồng, 01 bóp màu đen, số tiền 553.000 đồng, là tài sản cá nhân của Kiều Đức S không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe môtô hiệu Luvias biển số: 59C2 – 481.57 bị cáo sử dụng để đi mua ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Tuyên bố bị cáo Kiều Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Kiều Đức S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2018.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong, một vỏ bao thuốc lá;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước một xe máy hiệu Luvias màu xanh đen biển số 59C2-481.57;
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng hồng, 01 cái bóp màu đen và tiền Việt Nam 553.000 đồng (năm trăm năm mươi ba nghìn đồng);
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 48 ngày 01/3/2018).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ánh Loan |