vanban.org

Bản án 60/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng Sông D (Và Sồng D) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Vàng Sông D (Và Sồng D) 14 (mười bốn) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 30/01/2018). Áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo 5.000.000VNĐ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Sông D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng Sông D (Và Sồng D) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2018/HS-ST
Ngày 30 – 05 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Thái

Ông Cầm Văn Tổ Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2018/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Vàng Sông D. Tên gọi khác: Và Sồng D. Sinh năm 1958 tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Chử P (đã chết) và bà: Thào Thị K(đã chết); Bị cáo có vợ là Sồng Thị N, sinh năm 1960; Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1980 và con nhỏ nhất sinh năm 2002.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 10/2007/HSST ngày 06/02/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Và Sồng D 08 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2018, giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 35 phút ngày 30/01/2018 tổ công tác Đồn công an Nà Ớt, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ tại khu vực Quốc lộ 4G thuộc bản Nà Ớt, xã Nà Ớt, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện Vàng Sông D đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX hướng đi Sông Mã có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi da màu đen của D đang đeo trên người có 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroin. Vàng Sông D khai nhận gói chất bột nén màu trắng đó là Heroin D mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Qúa trình điều tra Vàng Sông D khai nhận:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/01/2018, Vàng Sông D đem theo 50.000VNĐ đi bộ từ nhà đến khu vực cầu cứng thuộc thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. D gặp 01 người đàn ông không quen biết, D hỏi mua 50.000VNĐ Heroin và đưa tiền, người đàn ông cầm tiền và đưa cho D 01 gói nilon màu trắng, D kiểm tra thấy đúng là Heroin liền cất vào túi da màu đen đang đeo rồi đi bộ về nhà, đến nhà D giấu chiếc túi vào phòng ngủ của D. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/01/2018, D đem theo túi da màu đen điều khiển xe mô tô Honda, biển kiểm soát: 26C1-11528 để đi thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La chơi. Khi đi đến đoạn đường 4G thuộc bản Nà Ớt, xã Nà Ớt, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Đồn Công an Nà Ớt bắt quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng.

Ngày 30/01/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Sông D. Kết quả:

Khối lượng chất bột nén màu trắng nghi là Heroin trong gói vật chứng là 0,106gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M.

Ngày 08/02/2018, Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 304/KLMT kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là chất ma túy; Loại chất Heroin; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,106gam.”

Tại phiên toà bị cáo Vàng Sông D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 46/CT-VKSMS ngày 11/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Vàng Sông D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Vàng Sông D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 3 Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Vàng Sông D từ 13 đến 18 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000VNĐ đến 7.000.000VNĐ.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong tang vật ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định, 01 bật lửa màu đỏ, 01 túi giả da màu đen có quai đeo kích thước 19cm x 13,5cm.

Tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng, biển kiểm soát: 26C1-11528, số khung 043863, số máy 1100540; 01 điện thoại nhãn hiệu MASSTEL C710, màu đỏ, kèm 02 sim, 01 thẻ nhớ của Vàng Sông D.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo Vàng Sông D tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vàng Sông D khai nhận vào ngày 29/01/2018 bị cáo đã mua 50.000VNĐ được một gói Heroin có trọng lượng 0,106gam nhằm mục đích sử dụng vì bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy. Ngày 30/01/2018 bị cáo đã bị tổ công tác Đồn Công an Nà Ớt, xã Nà Ớt, huyện Mai Sơn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Như vậy, với việc tàng trữ 0,106gam Heroin mục đích để sử dụng đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Vàng Sông D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 46/CT-VKSMS ngày 11/5/2018 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã từng bị xử phạt vì tội tương tự nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu: tại bản án số 10/2007/HSST ngày 06/02/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Và Sồng D 08 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào vì tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định. Tuy nhiên, trong vụ án có thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng, biển kiểm soát: 26C1-11528, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL C710. Dó đó, căn cứ khoản 5 Điều 249, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang bị cáo vật chứng gồm: 01 gói ma túy có trọng lượng 0,106gam Heroin đã trích rút toàn bộ làm m u giám định.

Đối với 01 phong bì chứa bao bì niêm phong tang vật ban đầu không phải là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bật lửa màu đỏ, 01 túi giả da màu đen có quai đeo kích thước 19cm x 13,5cm; xét thấy là vật có giá trị sử dụng thấp và vật sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng, biển kiểm soát: 26C1-11528, số khung 043863, số máy 1100540; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL C710, màu đỏ, kèm theo 02 sim, 01 thẻ nhớ: xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán Heroin cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này, việc mua bán không ai biết, chứng kiến nên không có cơ sở để mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 3 Điều 35 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Vàng Sông D (Và Sồng D) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Vàng Sông D (Và Sồng D) 14 (mười bốn) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 30/01/2018).

Áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo 5.000.000VNĐ.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong tang vật ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định, 01 bật lửa màu đỏ, 01 túi giả da màu đen có quai đeo kích thước 19cm x 13,5cm.

Tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng, biển kiểm soát: 26C1-11528, số khung 043863, số máy 1100540; 01 điện thoại nhãn hiệu MASSTEL C710, màu đỏ, kèm 02 sim, 01 thẻ nhớ của Vàng Sông D.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 30/5/2018).

Cỡ chữ