vanban.org

Bản án 60/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đường Thị H

Chị Đường Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Cao T Về con chung: Giao 01 (Một) con chung là cháu Nguyễn Đường Thảo N, sinh ngày 14/11/2009 cho chị Đường Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đường Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 17 tháng 9 năm 2018
“V/v: Yêu cầu ly hôn, tranh
chấp về nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

2. Ông Nghiêm Thế Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2018/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc: “Yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2018/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đường Thị H, sinh năm 1967

Địa chỉ: 170 TĐT, tổ 8, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai

Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Cao T, sinh năm 1967

Địa chỉ: Tổ 8, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2018, bản tự khai ngày 03/5/2018 và tại phiên toà, nguyên đơn chị Đường Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Cao T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BH, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 20/02/1993. Sau khi kết hôn, chị và anh T sinh sống tại tổ 8, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân của anh chị diễn ra tốt đẹp và hạnh phúc tuy nhiên những năm gần đây do anh Nguyễn Cao T có quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác và hiện đã có con với người phụ nữ này nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh chị bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm nhau nhiều lần từ đó mất dần hạnh phúc gia đình. Chị và anh Nguyễn Cao T hiện nay đã sống ly thân nhiều năm. Nay chị nhận thấy anh chị không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa anh chị đã đến mức trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Cao T.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Cao T có 02 (Hai) con chung là Nguyễn Hào K, sinh ngày 29/10/1993 và Nguyễn Đường Thảo N, sinh ngày 14/11/2009. Các cháu hiện đang sống với chị. Cháu Nguyễn Hào K đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đang học đại học nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Nguyễn Đường Thảo N, do cháu là con gái, lại còn nhỏ nên chị có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đường Thảo N nên không yêu cầu anh Nguyễn Cao T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị và anh Nguyễn Cao T tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nghĩa vụ chung phải thực hiện nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Cao T:

Anh Nguyễn Cao T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để anh T trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn, giải quyết vấn đề con chung của chị Đường Thị H nhưng anh Nguyễn Cao T không đến Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo luật định để xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku có ý kiến như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như trình tự phiên tòa. Nguyên đơn chị Đường Thị H chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Đối với bị đơn anh Nguyễn Cao T, việc chấp hành theo quy định của pháp luật tố tụng chưa bảo đảm.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đường Thị H về yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Cao T và giao cháu Nguyễn Đường Thảo N cho chị Đường Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đường Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Đường Thị H và anh Nguyễn Cao T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BH, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 20/02/1993. Hôn nhân của chị H và anh T tuân thủ theo Điều 9,10,11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 nên hôn nhân hợp pháp.

Do mâu thuẫn vợ chồng chị Đường Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Cao T đồng thời giải quyết về vấn đề con chung, bị đơn anh Nguyễn Cao T cư trú trên địa bàn thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P theo loại việc, theo lãnh thổ và theo cấp xét xử

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Cao T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án để anh trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Đường Thị H, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ và hòa giải về hôn nhân, con chung và các vấn đề khác cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Theo biên bản xác minh ngày 01/6/2018, chính quyền địa phương nơi chị H và anh T sinh sống không xác định anh chị có mâu thuẫn vợ chồng, chỉ xác định anh T thường xuyên vắng mặt, thỉnh thoảng về nhà ngủ. Bên cạnh đó tại biên bản lấy lời khai của cháu Nguyễn Đường Thảo N thể hiện từ thời điểm cháu N còn nhỏ đến nay thời gian anh Nguyễn Cao T ở nhà quan tâm chăm sóc gia đình cũng như gần gũi với các con rất hạn chế.

Điều này phù hợp với lời khai của chị Đường Thị H: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên hiện chị và anh T đã sống ly thân nhiều năm, trong thời gian sống ly thân mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Do đó chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Cao T

Như vậy giữa chị Đường Thị H và anh Nguyễn Cao T không còn sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống cũng như công việc trong gia đình, không cùng hướng đến mục đích chung là xây dựng gia đình hạnh phúc.

Từ đó có cơ sở khẳng định hôn nhân giữa chị Đường Thị H và anh Nguyễn Cao T phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đường Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Cao T.

Về con chung: Chị Đường Thị H và anh Nguyễn Cao T có 02 (Hai) con chung là Nguyễn Hào K, sinh ngày 29/10/1993 và Nguyễn Đường Thảo N, sinh ngày 14/11/2009.

Đối với cháu Nguyễn Hào K đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đang học đại học, chị Đường Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Đường Thảo N, chị Đường Thị H có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Xét cháu N còn nhỏ, hiện đang chung sống với chị H, bản thân cháu N có nguyện vọng chung sống với chị Đường Thị H. Vì vậy căn cứ theo quy định tại Điều 92 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, việc giao cháu Nguyễn Đường Thảo N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là chính đáng cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đường Thị H đủ điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đường Thảo N nên không yêu cầu anh Nguyễn Cao T cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Đường Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án này.

Về án phí: Chị Đường Thị H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, 10, 11, 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 146, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đường Thị H

Chị Đường Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Cao T

2. Về con chung: Giao 01 (Một) con chung là cháu Nguyễn Đường Thảo N, sinh ngày 14/11/2009 cho chị Đường Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Đường Thị H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai số 0003502 ngày 03/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn chị Đường Thị H được quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn anh Nguyễn Cao T vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ