vanban.org

Bản án 60/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 15/05/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị Xuân H ly hôn với anh Trương Văn H. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Cao Thị Xuân H chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000950 ngày 07/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Xuân H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 60/ 2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 15/ 5/ 2018
V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Khưu Để Dành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoàng Cảnh.
2. Ông Phan Minh Quốc.
dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 31/2018/TLST-HNGĐ ngày
07/02/2018 về việc "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
199/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị Xuân H, sinh 1994 (có mặt).
Địa chỉ: Số 082/2, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Trương Văn H, sinh 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.
Ngày 15 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị Xuân H trình bày: Chị với anh Trương Văn H chung sống với nhau từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng đến ngày 26/01/2018 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống; nguyên nhân do hai bên không hợp nhau, anh H xúc phạm chị và có thái độ không tôn trọng cha mẹ chị; từ đó, vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm được nữa, chị xin được ly hôn với anh Trương Văn H. Về quan hệ con chung, tài sản và nợ chung không có chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Trương Văn H: Kể từ khi thụ lý vụ án tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh H đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị đơn anh Trương Văn H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh H.

Do Mai mối và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới, năm 2017 chị Cao Thị Xuân H với anh Trương Văn H tự nguyện chung sống với nhau được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 125 ngày 13/10/2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Cao Thị Xuân H, thấy: Vợ chồng chị H và anh H chung sống với nhau, có thời gian hạnh phúc; tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, ngày càng trầm trọng và đã sống ly thân từ ngày 26/01/2018; kể từ khi sống ly thân cho đến nay chị H với anh H không gặp nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau. Ngoài lời trình bày của chị H, điều này còn được thể hiện, kể từ khi thụ lý vụ án tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh H đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị H để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị Cao Thị Xuân H với anh Trương Văn H không còn, tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị Xuân H.

[4] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chị Cao Thị Xuân H là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị Xuân H ly hôn với anh Trương Văn H.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Cao Thị Xuân H chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000950 ngày 07/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Chị Cao Thị Xuân H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án, anh Trương Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ