vanban.org

Bản án 60/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Ti êu thụ t ài sản do ngư ời khác phạm tội m

Áp dụng : Khoản 1 Điều 250; Điều 33, Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật h ình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thanh T - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Ti êu thụ t ài sản do ngư ời khác phạm tội m
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật h ình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 250 Bộ luật h ình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN TH Ơ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2017/HSST
Ngày: 27/9/2017

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG H

ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN – THÀNH PHỐ CẦN TH Ơ

- Thành phần Hội đồng xét xử s

ơ th ẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phi ên tòa: Bà Bùi Trần Thanh Thế .

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Nghiêm – Hiệu Phó Trư ờng Trung học phổ thông Lưu H ữu Ph ư ớc , quận Ô Môn.

2. Ông Trương Sô Huy – Phó Phòng dân tộc quận Ô Môn.

- Thư k ý phiên tòa: Bà Phan Thị Nh ư Ng ọc – Thư k ý Tòa án nhân dân quận Ô Môn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phi

ên tòa: Ông Lê Thanh Đời – Kiểm sát vi ên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ s ở T òa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Th ơ xét x ử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự thụ lý số 52/2017/HSST ngày 12/9/2017, theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 63/2017/HSST-QĐ ngày 15/9/2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN THANH T (Tèo) - sinh năm 1981.

Nơi đăng k ý hộ khẩu th ư ờng t rú: Khu vực B, ph ư ờng P, quận M, thành phố Cần Th ơ.

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Q uốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc : Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn S (sống) v à bà Lê Thị A (sống) ; Vợ: L ê Thị N - sinh năm 1987; Anh chị em: có 04 ngư ời, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1982; Con: Có 01 ng ư ời con sinh năm 2015. Tiền án: Không.Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ng

ày 07/7/2017. (Bị cáo có mặt tại phi ên tòa).

* Ngư ời bị hại : Bà Võ Thị T1 , sinh năm 1925. (có mặt)

Địa chỉ: Khu vực B, ph ư ờng P, quận M, th ành phố Cần Th ơ.

* Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan:

1/ Lê Trung T2, sinh ngày 02/7/2000. (vắng mặt)

Ngư ời đại diện giám hộ: Ông

Lê Trọng V , sinh năm 1976.

Cùng địa chỉ: Khu vực B, ph ư ờng P, quận M, th ành phố Cần Th ơ.

2/ Trần Văn H, sinh ngày 09/9/1999. (có mặt)

3/ Ông Lê Trọng V , sinh năm 1976. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu vực B, ph ư ờng P, quận M, th ành phố Cần Th ơ.

4/ Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1958. (có mặt)

Địa chỉ: Khu vực E, phư ờng P, quận M, thành phố Cần Th ơ.

5/ Bà Dương Th ị L, sinh năm 1951. (có mặt)

6/ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Q, x ã X, huyện A, tỉnh An Giang.

7/ Bà Trần Thị Q, sinh năm 1972. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, x ã X, huyện A, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY

:

Bị cáo Nguyễn Thanh T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn

truy tố về h ành vi phạm tội nh ư sau:

Khoảng 04 giờ ng ày 22/9/2016, Lê Trung T2 sinh ngày 02/7/2000 (cư trú khu vực B, ph ư ờng P, quận M, thành phố Cần Th ơ) đi ngang nhà bà V õ Thị T1, sinh năm 1925 ngụ c ùng khu vực với T2 thì thấy bà T1 đang tắm tr ư ớc cửa nhà nên T2 nảy sinh ý định v ào nhà bà T1 tìm tài sản lấy trộm.

T2 lục t ìm, phát hiện một cái hộp để trang sức m

àu cam trên giư ờng ngủ của

bà T1, T2 lấy tất cả trang sức trong hộp gồm: 01 sợi dây chuyền, 05 chiếc nhẫn m

àu vàng và bỏ cái hộp đựng trang sức lại, rồi đi về nh

à ngủ. Đến sáng c ùng ngày T2 đến nh à Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981 ngụ c ùng khu vực với

T2 rủ đi uống c à phê. Tại đây, T2 nói cho T biết việc trộm cắp v

àng của bà T1 và cho T xem sợi dây chuyền mới trộm đ

ư ợc . Đồng thời,

T2 rủ T đi bán số v àng trên tại huyện An Phú, tỉnh An Giang để ti êu xài và T đồng ý. Sáng ng ày 23/9/2016, T2 và T đi xe ô tô khách đến tiệm v àng Kim Q thuộc ấp Đ, x ã X, huyện A, tỉnh An Giang bán số v àng trên có trọng l ư ợng 01 l ư ợng 09 chỉ loạ

i vàng 24K đư ợc tổng số tiền 48.000.000 đồng. Khi chủ tiệm v àng đưa ti ền th ì T có kiểm tra tiền giúp T2. Xong T2 đưa cho T 2.000.000 đồng rồi đến nh à mẹ ruột l à bà Nguyễn Thị Đ và bà Dương Th ị L là bà ngoại của T2 ngụ ấp Q, x ã X, huyện A, tỉnh An Giang cho mỗi ng ư ời 500.000 đồng rồi cả hai đi về nh

à. Khoảng 03 ng ày sau, T2 cho T thêm số tiền 8.000.000 đồng, c òn lại 37.000.000 đồng T2 tiêu xài xác nhân.

Nguyễn Thanh T thừa nhận có c ùng với L ê Trung T2 đi tiêu thụ số v àng mà T2 trộm đ ư ợc v à T biết số v àng T2 có đư ợc l à do T2 trộm của b à Võ Thị T1 mà có, sau khi bán đư ợc v àng, T2 chia cho T số tiền 10.000.000 đồng,

T đã tự nguyện giao nộp lại cho C ơ quan C ảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn.

Tại Bảng báo giá v àng ngày 04/8/2017 của Công ty cổ phần v

àng bạc đá quý SJC C xác định loại v àng 24K giá mua vào ngày 22/9/2016 là 3.585.000 đồng v à giá bán ra là 3.615.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 304 ng

ày 19/01/2017 của Phân viện khoa học h

ình sự tại th ành phố Hồ Chí Minh th ì Lê Trung T2 tại thời điểm giám định (tháng 01/2017) có độ tuổi từ 15 năm đến 15 năm 06 tháng. Tại thời điểm thực hiện h

ành vi phạm tội, L ê Trung T2 chưa đ ủ tuổi chịu trách nhiệm h ình sự.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 44 v

à 44.0 cùng ngày 19/5/2017 và Công văn của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Nguyễn

Thanh T kết luận: tr ư ớc, trong, sau khi phạm tội v

à hiện tại đương s ự không bị bệnh lý tâm thần; tại thời điểm phạm tội v

à hiện tại đ ương s ự đủ khả năng nhận thức, điều khiển h

ành vi và đủ năng lực chịu trách nhiệm h ình sự.

Đối với b à Trần Thị Q là chủ tiệm v àng Kim Q khai nhận không nhớ đ ã có mua vàng do T2 và T bán, không có xuất hóa đ ơn và không có lưu s ổ sách mua bán vàng hàng ngày nên không có cơ s ở thu hồi v à xử lý.

Đối với b à nguyễn Thị Đ và bà Dương Th ị L thừa nhận L ê Trung T2 có cho mỗi ng ư ời 500.000 đồng nh ưng bà Đ và bà L không biết đó l à tiền do T2 trộm cắp m à có nên không có cơ s ở xử lý. B à Đ, bà L đã tự nguyện giao nộp số tiền tr ên.

Đến ng ày 19/4/2017, Lê Trung T2 tiếp tục có h ành vi trộm cắp 03 con g à của ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1958, cư ng ụ khu vực E, phư ờng P, quận M, thành phố Cần Th ơ và cùng Tr ần Văn H, sinh năm 1999 ngụ c ùng khu vực với T2 đem gà trộm đ ư ợc đi ti êu thụ. Vật chứng thu giữ 03 con g

à trống có tổng trọng l ư ợng l à 7,2kg và 03 cái bao nylon.

Căn cứ kết luận định giá t

ài sản số 15 ng ày 09/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản quận Ô Môn xác định 03 con g à trống trị giá 720.000 đồng.

Đối với Trần

Văn H có hành vi chở T2 tìm nơi tiêu th ụ 03 con g à trống trị giá 720.000 đồng, do không đủ yếu tố cấu th

ành tội phạm n ên Cơ quan C ảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn đ ã tách chuyển hồ s ơ Lê Trung T2 và Trần Văn H cùng T2 bộ vật chứng đến Công an ph

ư ờng Ph ư ớc Thới để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số

58/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã truy tố Nguyễn Thanh T về tội “ Tiêu thụ t ài sản do ngư ời khác phạm tội m

à có” theo Khoản 1 Điều 250 Bộ luật h

ình sự.

Tại phi ên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận h ành vi phạm tội nh ư n ội dung bản cáo trạng. Đồng thời, bị cáo xin đ

ư ợc giảm nhẹ h ình phạt.

- Bà Võ Thị T1 chỉ y êu cầu đ ư ợc nhận lại số tiền 11.000.000 đồng

(Mư ời một triệu đồng)

, ngoài ra, bà T1 không có yêu cầu n ào khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân

quận Ô Môn trình bày lời luậ n tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo

Nguyễn Thanh T theo tội danh v à điều luật đ ã nêu trong cáo trạng. Đồng thời phân tích những t

ình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự đối với bị cáo

và đề nghị Hội đồng xét xử

áp dụng: Khoản 1 Điều 250; Điều 33, Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật h

ình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng t

ù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử dụng áp dụng

Điều 42 của Bộ luật h ình sự v à Điều 76 của Bộ luật tố

tụng h ình sự : Trả lại cho b à Võ Thị T1 số tiền 11.000.000 đồng.

Đồng thời, đề nghị buộc bị cáo nộp án phí h

ình sự s ơ th ẩm theo quy định.

Căn cứ v ào các chứng cứ v à tài liệu đ ã đư ợc thẩm tra tại phi ên tòa; căn cứ v ào kết quả tranh luận tại phi

ên tòa trên c ơ s ở xem xét đầy đủ,

T2 diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát vi

ên, bị cáo v à những ng ư ời tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY :

Lời khai nhận của bị cáo

Nguyễn Thanh T tại phi ên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại C ơ quan đi ều tra v à phù hợp với lời khai của n

gư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li ên quan đến vụ án v à vật chứng thu giữ đ

ư ợc. Từ đó, có đủ c

ơ s ở chứng minh vào ngày 23/9/2016, mặc d ù biết việc L ê Trung T2 có lấy trộm vàng của b à Võ Thị T1 nhưng b ị cáo vẫn giúp sức cho L ê Trung T2 đem bán 01 lư ợng 09 chỉ v àng 24K của b à Võ Thị T1 , sau đó bị cáo đ ư ợc T2 chia cho số tiền 10.000.000 đồng. Căn cứ theo Bảng báo giá v àng ngày 04/8/2017 của Công ty cổ phần v àng bạc đá quý SJC Cần Th ơ xác đ ịnh v ào ngày 22/9/2016 loại v àng 24K giá bán ra là 3.615.000 đồng, nh ư v ậy, 1 9 chỉ v àng 24K có giá trị l à 68.685.000 đồng.

Với giá trị t ài sản nh ư trên, l ẽ ra h ành vi của bị cáo đ ã đủ yếu tố cấu

thành tội “Tiêu thụ t ài sản do ng ư ời khác phạm tội m à có ” đư ợc quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 250 Bộ luật h

ình sự. Tuy nhi ên, căn cứ the o Nghị quyết số 144/2016/QH13 ng ày 29/6/2016 về việc l ùi hiệu lực thi h ành Bộ luật h ình sự 2015 và Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 về việc hư ớ ng dẫn áp dụng một số quy định có l

ợ i cho ngư ời phạm tội của Bộ luật h

ình sự năm 2015 thì Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn

truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “ Tiêu thụ t ài sản do ng ư ời khác phạm tội m à có ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 250 của Bộ luật h

ình sự l à có căn cứ v à đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo l

à nguy hiểm cho x ã hộ i, mặc d ù bị cáo không trực tiếp thực hiện h

ành vi lấy trộm t ài sản của ng ư ời khác nh ưng vi ệc bị cáo giúp sức cho T2 tiêu thụ số t ài sản lấy trộm đ ư ợc đ ã góp phần hỗ trợ, tạo điều kiện cho loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu t

ài sản của ng ư ời khác ngày càng gia tăng, tác động xấu đến t ình hình an ninh trật tự tại địa ph

ương, gây hoang man trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo l à ngư ời đ ã trư ởng th ành, có đủ khả năng nhận thức h

ành vi và có đủ năng lực chịu trách nhiệm h

ình sự do h ành vi của m ình gây ra. Bị cáo biết số vàng mà T2 kêu bị cáo đi bán l à do T2 trộm cắp m à có nhưng do b ản tính tham lam, hám lợi tr ư ớc mắt n ên bị cáo đ ã cố ý thực hiện h ành vi phạm tội.

Do đó, để có tác dụng giáo dục răn đe đối với

bị cáo và phòng ngừa chung cho x ã hội cần có một mức án thật nghi êm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi x ã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian ăn năn, hối cải về h

ành vi sai trái của m ình, để từ đó biết sửa đổi bản thân, sống đặt m

ình trong khuôn khổ pháp luật .

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra , truy tố và tại phi ên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc tr

ư ờng hợp ít nghi êm trọng, bị cáo đ ã tự nguyện nộp lại số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử

có xem xét đến các t ình tiết n ày để giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với L ê Trung T2 đã trực tiếp thực hiện h

ành vi lấy trộm 01 l ư ợng 09 chỉ v àng 24K của b à Võ Thị T1 đem bán lấy tiền ti êu xài cá nhân. Ngoài ra, T2 còn có hành vi trộm cắp 03 con g à trống trị giá 720.000 đồng của ông N

guyễn Văn T3, sau đó T2 cùng Trần Văn H đem gà trộm đ ư ợc đi ti êu thụ. Do khi thực hiện h ành vi, T2 chưa đ ủ tuổi chịu trách nhiệm h

ình sự n ên Cơ quan C ảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn đ ã tách chuyển hồ s ơ Lê Trung T2 và Trần Văn H cùng T2 bộ vật chứng đế

n Công an phư ờng Ph ư ớc Thới để giải quyết theo thẩm quyền n ên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục Thi h

ành án dân sự quận Ô Môn đang quản lý số tiền 11.000.000 đồng. Sau khi bán v

àng, T2 chia cho bị cáo 10.000.000 đồng v à cho bà L, bà Đ mỗi ng ư ời 500.000 đồng. Bị cáo, b à L và bà Đ đã tự nguyện nộp lại số tiền tr

ên. Số tiền n ày có đư ợc từ việc bán v

àng của bà T1, nay bà T1 có yêu cầu đ ư ợc nhận lại, xét y êu cầu n ày là có căn cứ n ên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tr ách nhiệm dân sự:

Bà T1 chỉ y êu cầu đ ư ợc nhận lại số tiền 11.000.000 đồng (Mư ời một triệu đồng)

, ngoài ra không yêu cầu bồi th ư ờng g ì thêm. Xét đây là sự tự nguyện của đ

ương s ự n ên Hội đồng xét xử ghi nhận v

à không đặt ra xem xét giải quyết vấn đề bồi th

ư ờ ng.

Về án phí s ơ th ẩm: Bị cáo phải chịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Ti êu thụ t ài sản do ngư ời khác phạm tội m

à có”.

Áp dụng : Khoản 1 Điều 250; Điều 33, Điểm

h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật h ình sự;

Xử phạt : Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt t ù tính từ ng ày 07/7/2017.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 42 của Bộ luật h

ình sự v à Điều 76 của Bộ luật tố tụng h

ình sự: Trả lại cho b à Võ Thị T1 số tiền 11.000.000 đồng (Mư ời một triệu đồng)

.

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi h

ành án dân sự quận Ô Môn quản lý)

.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng h

ình sự v à Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ng

ày 30/12/2016 quy địn h về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v

à sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp số tiền 200.000 đồng

(Hai trăm ngàn đồng) .

Trong hạn 15 ng ày kể từ ng ày tuyên án, bị cáo, ng ư ời bị hại v à ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan có mặt đư ợc quyền kháng cáo . Đối với ng ư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan vắng mặt tại phi ên tòa đư ợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng ày kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc bản án đ

ư ợc ni êm yết công khai.

Trư ờ ng hợ p bản án đư ợc thi h ành theo quy định tạ i điều 2 Luậ t Thi hành án dân sự thì ngư ờ i thi hành án dân sự, ngư ờ i phả i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h ành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị cư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật Thi h ành án dân sự; thời hiệu thi h

ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi h

ành án dân sự. Nơi nh ận:

Cỡ chữ