vanban.org

Bản án 60/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: VV H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: Khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: V V H 2 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Hảo tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: VV H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60 /2017/HSST
Ngày 26 /10 /2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Nghệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Quý

2. Ông Hồ Xuân Hùng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Văn Đông – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 58 / 2017/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: V V H, tên gọi khác: Không

Sinh năm: 1995, tại huyện Q H, tỉnh N A.

Nơi cư trú: Xóm Tr Th, xã Ch Th, huyện QH, tỉnh N A; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông V VT, con bà H T T; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2017 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/6/2017, tại khu vực nghĩa địa, xóm Bản Phảy, xã Châu Q, huyện Q H, tỉnh N A, Công an huyện Q H phát hiện, bắt quả tang đối tượng V V H có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói chất bột nén màu trắng (nghi heroine). Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi tiếp nhận đối tượng V V H vào nhà tạm giữ, Công an huyện Q H phát hiện V V H đang cất dấu trong người 01 gói chất bột nén màu trắng nghi heroine.Tại Cơ quan điều tra,V V H khai nhận: Gói chất bột nén màu trắng bị Công an thu giữ khi bắt quả tang là heroine do H mua giúp cho đối tượng có tên là L V Q, trú tại xã Ch Q, huyện Q H để cùng nhau sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Gói chất bột nén màu trắng bị thu giữ khi đưa vào nhà tạm giữ là heroine do H mua trước đó để sử dụng. Hai gói heroine trên do H mua vào buổi trưa và buổi chiều ngày 28/6/2017 của người đàn ông có tên là “Trung” ở thị trấn Q H.

Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 17 giờ 10 phút ngày 28/6/2017 xác định 01 gói chất bột màu trắng ghi thu của VV H có trọng lượng 0,415 gam.

Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 8 giờ 30 phút ngày 29/6/2017, xác định 01 gói chất bột màu trắng ghi thu của V V H có trọng lượng 0,010 gam.

Bản kết luận giám định số 770 ngày 29/6/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N A kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ghi thu của VV H khi bắt quả tang gửi giám định là heroine có trọng lượng là 0,415 gam; Mẫu chất bột màu trắng ghi thu của V V H khi kiểm tra tại nhà tạm giữ gửi tới giám định là heroin có trọng lượng là 0,010 gam.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: Số heroine (sau khi đã lấy đi giám định còn lại là 0,325 gam).

Tại bản cáo trạng số 60/KSĐT ngày 01/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện QH, tỉnh N A đã truy tố bị cáo V V H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo V V H đã khai nhận tội. Vào buổi trưa và buổi chiều ngày 28/6/2017, bị cáo đã mua của một người đàn ông có tên là “Trung” ở thị trấn Q H 1 gói hê rô in với giá 100.000,đ và 1 gói heroine với giá 300.000,đ. Số heroine này bị cáo khai 1 gói bị cáo mua hộ cho L V Q ở xã Ch Q, huyện Q H để sử dụng chung và 01 gói bị cáo mua nhưng chưa sử dụng thì bị bắt quả tang. Số heroine thu tại bị cáo có trọng lượng 0,425gam .

Như vậy, hành vi của V V H đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với VV H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật như bản cáo trạng số 60/KSĐT ngày 01/10/2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo V V H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,325 gam heroine; 01 phong bì thư niêm phong; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo: VV H tỏ ra ăn năn và hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q H, tỉnh N A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q H, tỉnh N A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội.

- Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang lập ngày 28/6/2017; Vật chứng thu được trong vụ án 0,425 gam heroine; Bản kết luận giám định số 770/KL-PC54(MT), ngày 29/6/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N A; Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó hành vi của VV H đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét để giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo bởi các tình tiết: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội khai báo thành khẩn. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Đối với người có tên là "Trung", quá trình điều tra không xác định được đối tượng nào có tên là “Trung” có đặc điểm như bị cáo H khai nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với người có tên là "L V Q", trú tại xã Ch Q, huyện Q H. Quá trình điều tra, xác định được đối tượng đó là L V Q, trú tại xóm Đ M, xã Ch Q, huyện Q H.Quá trình điều tra đã lấy lời khai và đối chất, nhưng LVQ không thừa nhận hành vi nhờ V V H đi mua heroine. Lời khai của V V H không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với L VQ.

[4] Vật chứng vụ án: Số heroine thu tại bị cáo sau khi lấy đi giám định còn lại là 0,325 gam; 01 vỏ bao niêm phong cần tuyên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại là tài sản không liên quan đến vụ án tuyên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: VV H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: Khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: V V H 2 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2017.

Áp dụng điểm a,b khoản 2 điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ 0,325 gam he roine được niêm phong trong phong bì thư do Bưu điện phát hành; 01 phong bì thư niêm phong. Trả lại cho V V H 01 điện thoại di động (chi tiết được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q h).

Về án phí: Bị cáo VV H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng chẵn).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ